Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (1/3)

Giúp NTDVN sửa lỗi

Từ đạo tràng của Bồ Tát Quan Âm đến Thánh địa của Văn Thù Bồ Tát, ngài thắp hương lễ bái, cứ ba bước lạy một lạy, cuối cùng được thấy Bồ Tát hiện thân.

Vào thời cận đại có một vị cao tăng từng bộ hành vạn lý, vân du khắp sơn hà, vượt qua muôn núi nghìn sông tìm đến các danh sơn Thánh địa. Từ đạo tràng Bồ Tát Quan Âm đến nơi tu hành của Văn Thù Bồ Tát, ngài đã thắp hương lễ bái, đi ba bước lạy một lạy, siêu độ vong linh cho phụ mẫu. Lòng thành kính và kiên định của ngài khiến đất trời cảm động, Bồ Tát cũng hiện thân điểm hóa cho ngài.

Vị cao tăng ấy chính là Hư Vân hòa thượng. Câu chuyện dưới đây là lời tự thuật lúc sinh thời của ngài Hư Vân, lược trích từ “Hư Vân hòa thượng niên phổ”, thân mến chia sẻ cùng bạn đọc xa gần.

Chào đời

Tôi vốn họ Tiêu, dòng dõi ở Lan Lăng, là hậu duệ của Lương Vũ Đế, cư trú ở Tương Hương, tỉnh Hồ Nam. Cha tôi tên Ngọc Đường, mẹ là Nhan Thị. Vào năm Đạo Quang thứ nhất thời nhà Thanh, cha tôi làm quan ở tỉnh Mân (Phúc Kiến). Giữa những năm Mậu Tuất và Kỷ Hợi, ông làm phó quan lo liệu các việc ở Vĩnh Xuân, Châu Mạc.

Cha mẹ tôi âu sầu vì đã ngoài bốn mươi mà chưa có con, mẹ tôi bèn đến cầu tự ở chùa Quan Âm bên ngoài thành. Thấy mái chùa hư hại, lại thấy cầu Đông Quan chưa được tu sửa nên bà phát nguyện trùng tu xây dựng hai công trình này.

Một đêm, cha mẹ tôi cùng mộng thấy một người râu dài, thân mặc áo bào xanh, đỉnh đầu có hình tượng Quan Âm, cưỡi hổ bay đến rồi nhảy lên giường. Cha mẹ tôi kinh ngạc tỉnh dậy và kể cho nhau nghe giấc mộng kỳ lạ này. Sau đó mẹ tôi mang thai. Đến năm sau, cha tôi chuyển đến phủ Tuyền Châu làm quan phụ tá.

Năm Đạo Quang thứ 20 (năm Canh Tý 1840), 1 tuổi

Tôi chào đời vào giờ Dần ngày 29 tháng 7 trong phủ Tuyền Châu. Lúc ấy tôi chỉ là cục thịt tròn rơi ra khỏi bụng mẹ. Mẹ tôi vừa kinh hãi vừa bi thương, nghĩ rằng từ nay về sau không còn hy vọng sinh con được nữa nên tắc thở mà chết. Hôm sau có ông lão bán thuốc đến rạch bọc thịt bế tôi ra, từ đó tôi được thứ mẫu Vương Thị chăm sóc.

Trốn nhà xuất gia

Năm Đạo Quang thứ 30 (năm Canh Tuất 1850), 11 tuổi

Cha tôi trở về Tuyền Châu. Khi ấy bà nội tôi là Chu Thị tuổi đã già yếu, vậy nên chú ruột nhận tôi làm con nuôi. Tôi được hứa hôn với hai cô gái, một là Điền Thị, và một là Đàm Thị. Cả họ Đàm và họ Điền đều có gốc gác ở Tương Hương, Hồ Nam, sau làm quan ở tỉnh Mân (Phúc Kiến), đã nhiều đời kết giao với dòng họ tôi.

Bà nội tôi qua đời vào mùa đông năm ấy, cha tôi chịu tang để giữ tròn đạo hiếu.

Năm Hàm Phong thứ nhất (năm Tân Hợi 1851), 12 tuổi

Tháng 2, tôi theo cha đến Đài Loan. Chúng tôi xuất phát từ Hạ Môn ra biển trên một con thuyền nhỏ. Giữa mênh mông đại hải bỗng hiện ra một vật to lớn như trái núi, nhô lên khỏi mặt biển hàng chục thước. Mọi người trên thuyền sợ hãi bèn chắp tay niệm Quan Thế Âm Bồ Tát. Thuyền tiếp tục đi, được nửa tiếng thì nhìn thấy có hình đuôi cá dài không biết bao nhiêu dặm.

Năm Hàm Phong thứ ba (năm Quý Sửu 1853), 14 tuổi

Cha thấy tôi có chí xuất gia, bèn thuận theo tình thế tìm cách giữ tôi ở lại nhà. Cha tôi mời Vương tiên sinh, một Đạo sĩ thuộc phái Tiên Thiên Đại Đạo, đến dạy tôi tu hành tại gia. Ông dạy tôi học các sách Đạo thuật và luyện nội ngoại khí công. Dù lòng tôi chẳng muốn nhưng lại không dám nói. Mùa đông năm ấy cha đã mãn tang nên giao tôi cho chú ruột quản giáo, sau đó cha đến Phúc Kiến để phụ giúp các việc ở Hạ Môn.

Năm Hàm Phong thứ sáu (năm Bính Thìn 1856), 17 tuổi

Trong ba năm ấy, tôi ở nhà đọc các sách Đạo giáo. Đối với tôi đó là việc cực chẳng đã, như ngồi trên bàn đinh, nhưng tôi vẫn phải giả vờ chăm chỉ cho chú vui lòng. Tôi cũng phụ giúp việc nhà để chú lơ là đề phòng.

Một ngày chú có việc ra ngoài. Tôi nghĩ thời cơ rời khỏi nhà đã đến, liền gói ghém đồ đạc tìm đến Nam Nhạc. Nhưng đường ngang lối dọc có nhiều ngã rẽ, giữa đường tôi bị chặn lại rồi bị lôi về nhà. Tôi và cậu em họ tên là Phú Quốc bị đưa đến Tuyền Châu.

Không lâu sau, cha tôi đón hai cô Điền Thị và Đàm Thị về nhà và cử hành hôn lễ, mục đích là để giam giữ tôi. Tôi ở cùng hai cô nhưng tuyệt nhiên không nhiễm chuyện vợ chồng. Tôi thuyết Phật Pháp cho hai cô nghe, cả hai đều có thể lĩnh ngộ. Tôi thấy cậu em họ Phú Quốc cũng có chí thoát tục như mình nên cả hai bèn cùng nhau học Pháp. Dù là trong khuê phòng hay ngoài phòng khách, chúng tôi đều trở thành những người bạn thanh tịnh.

Năm Hàm Phong thứ tám (năm Mậu Ngọ 1858), 19 tuổi

Tôi quyết chí ly tục. Cậu em họ Phú Quốc cũng cùng chung chí hướng, vậy nên hai chúng tôi âm thầm tìm hiểu đường đi đến Cổ Sơn ở Phúc Châu. Trước khi đi tôi làm “Bài ca túi da” để lại cho hai cô Điền Thị và Đàm Thị, rồi cùng Phú Quốc bỏ trốn đến chùa Dũng Tuyền ở Cổ Sơn, Phúc Châu. Chúng tôi bái lạy lão hòa thượng Thường Khai và được ngài cử hành lễ khoác áo, xuống tóc quy y.

Hòa thượng Hư Vân khi ấy đã 112 tuổi
Hòa thượng Hư Vân khi đã hơn trăm tuổi. (Ảnh: Wikipedia)

Năm Hàm Phong thứ chín (năm Kỷ Mùi 1859), 20 tuổi

Ở Cổ Sơn, tôi theo học hòa thượng Diệu Liên. Sau khi thọ giới cụ túc, tôi lấy Pháp danh là Cổ Nham và Diễn Triệt, tự Đức Thanh. Còn Phú Quốc, thọ giới cụ túc xong cậu liền vân du khắp nơi tìm thầy hỏi Pháp, kể từ đó tôi không còn biết tung tích gì về cậu ấy nữa.

Cha tôi vẫn ở Tuyền Châu, ông phái người đi khắp nơi tìm kiếm tôi. Tôi ẩn tu trong sơn động sau núi, ngày ngày lễ Phật sám hối, không dám lộ diện ra ngoài. Đôi lúc gặp hổ sói, nhưng trong lòng không thấy sợ hãi.

Năm Đồng Trị thứ nhất (năm Nhâm Tuất 1862), 23 tuổi

Tôi ở sơn động lễ lạy sám hối đã được ba năm. Một ngày có vị tăng Chức sự ở Cổ Sơn đến báo tin cho tôi rằng: ‘Tiêu lão thái gia ở Tuyền Châu đã cáo lão về quê, vậy nên ngài không cần phải trốn tránh nữa. Diệu lão hòa thượng khen ngài bền lòng tu khổ hạnh, nhưng ngoài tu huệ vẫn còn phải tu phúc nữa, ngài hãy về núi nhậm chức, làm việc vì đại chúng’. Tôi liền quay về sơn môn để nhận chức.

Ẩn tu trong núi

Năm Đồng Trị thứ 5 (năm Bính Dần 1866), 27 tuổi

Có người cùng quê đến báo tin rằng: Sau khi cha tôi qua đời, thứ mẫu Vương Thị dẫn hai cô con dâu xuất gia làm ni cô. Bà Vương Thị lấy Pháp danh là Diệu Tịnh, Điền Thị là Chân Khiết, Đàm Thị là Thanh Tiết.

Tôi nhậm chức ở Cổ Sơn đã tròn bốn năm. Những chức vụ tôi từng làm là “Tự thủy đầu” (gánh nước), “Viên đầu” (làm vườn), “Hành đường” (phục vụ trà và thức ăn cho các tăng nhân), “Điển tọa” (chuẩn bị chỗ nằm ngồi). Đó đều là những công việc cực nhọc.

Tôi thường ở trong chùa, những lúc phân phát đồ cúng dường cho tăng sư, tôi đều không nhận. Mỗi ngày tôi chỉ ăn một bát cháo nhưng thể lực vẫn tráng kiện. Lúc ấy trong núi có vị thiền sư tên là Cổ Nguyệt, là bậc tu khổ hạnh đệ nhất trong tăng chúng, tôi và ngài thường có những cuộc đàm đạo sâu sắc.

Tôi thầm nghĩ: Mình nhậm chức đã nhiều năm, nhưng tu trì vẫn còn nhiều hạn chế. Ngày xưa Pháp sư Huyền Trang vì muốn cầu kinh mà phải sang Tây Trúc, mười năm trước khi thỉnh kinh ngài học phương ngữ, ngày đi trăm dặm, nhiều lần tập nhịn ăn, đầu tiên thử nhịn từ một ngày cho đến vài ngày, để dự phòng khi đi qua sa mạc hoang phế, không có nước cũng chẳng có cỏ. Cổ nhân có đức khổ hạnh, họ đã làm được đến mức ấy, còn mình là hạng người nào mà dám chẳng học theo?

Nghĩ vậy tôi liền từ bỏ chức vụ, đem cho hết quần áo và vật dụng của bản thân, chỉ giữ lại một chiếc áo nạp, một chiếc quần dài, một đôi giày, một áo tơi và một chiếc bồ đoàn (đệm ngồi thiền). Sau đó tôi vào sống trong hang động ở sau núi.

Năm Đồng Trị thứ tám (năm Kỷ Tị 1869), 30 tuổi

Cứ như thế tôi sống trong sơn động ba năm. Trong ba năm ấy tôi chỉ ở trong hang, đói thì ăn lá tùng và cỏ xanh, khát thì uống nước suối. Lâu ngày quần và giày đều rách, tôi chỉ còn một chiếc áo nạp che thân. Trên đầu bó hình vòng kim cương, râu và tóc dài thêm hàng thước, đôi mắt rất sáng. Người từ xa nhìn thấy tôi tưởng là quỷ mị nên sợ hãi rời đi, tôi cũng không cùng người nói chuyện.

Khoảng một hai năm đầu, tôi thường được thấy những cảnh tượng thù thắng nhưng không cho đó là điều kỳ dị, chỉ nhất tâm quán chiếu và niệm Phật. Tôi ở nơi núi sâu đầm lớn nhưng không bị hổ sói tấn công, không bị rắn và trùng độc làm hại, không nhận sự thương xót của mọi người, cũng không ăn thức ăn của nhân gian. Tôi sống cảnh màn trời chiếu đất, mọi thứ đều có sẵn cho mình, trong tâm luôn hoan lạc, tự thấy như Thiên nhân ở cõi tứ thiền vậy.

Tôi biết hoạn nạn của người đời đều từ thân, miệng, tai mà ra. Cổ nhân có câu: ‘Nhất bát khinh vạn chung giả’ (với một chiếc bát của nhà sư coi thường sự giàu có muôn chung vạn đỉnh). Hôm nay ngay cả một chiếc bát tôi cũng chẳng có, không gì trở ngại, tự do tự tại. Vì thế trong lòng luôn tiêu sái, thể lực ngày càng tráng kiện, tai mắt ngày càng lanh lợi, chân bước ngày càng nhẹ như bay. Tôi tự hỏi nhưng không biết vì sao lại như vậy. Một năm sau, trong lòng muốn sao được vậy, mọi thứ đều tùy theo ý muốn. Tôi có núi để ở, có cỏ để ăn, có thể du hành khắp muôn nơi.

Bất giác lại thêm một năm nữa trôi qua.

Trở lại thế gian

Năm Đồng Trị thứ chín (năm Canh Ngọ 1870), 31 tuổi

Một ngày khi đến ngọn núi ở Ôn Châu, tôi dừng chân nghỉ trong hang động. Một thiền nhân tới thăm, đảnh lễ rồi hỏi tôi rằng: “Từ lâu đã nghe nói đến đức hạnh của ngài, nay đặc biệt đến cầu xin ngài khai thị”.

Tôi nhận được câu hỏi như thế, trong lòng vô cùng hổ thẹn. Tôi đáp: “Tôi chỉ là kẻ ngu muội, còn nhiều thiếu sót, trông mong thượng tọa từ bi chỉ thị cho”.

Vị kia hỏi: “Ngài tu hành thế này đã được bao năm rồi?”

Tôi bèn kể lại những gì đã trải qua.

Vị ấy lại hỏi: “Tôi cũng còn nông cạn, đang tham học, không có gì chia sẻ với ngài. Ngài có thể đến am Long Tuyền trên đỉnh Hoa Đính núi Thiên Thai, thỉnh vấn lão Pháp sư Dung Kính. Lão Pháp sư là người có đạo hạnh vào bậc nhất ở Thiên Thai, tất sẽ có những điều hữu ích cho ngài”.

Tôi đi thẳng lên đỉnh Hoa Đính. Đến bên ngoài am lều tranh tôi thấy một vị tăng, bèn hỏi rằng lão Pháp sư có ở đây không. Người kia đáp: “Là người mặc áo vá đó”.

Tôi liền đến gần đảnh lễ, nhưng Pháp sư hoàn toàn không ngó ngàng gì đến. Tôi nói: “Học trò đặc biệt đến đây xin được gần gũi lão Pháp sư, mong ngài rủ lòng từ bi”.

Pháp sư quay đầu lại nhìn tôi một hồi lâu rồi hỏi: “Cậu là tăng, là Đạo, hay là tục?”

Tôi đáp: “Con là tăng”

Ngài hỏi: “Đã thụ giới chưa?”

Tôi đáp: “Con đã thụ giới cụ túc rồi”.

Ngài hỏi: “Cậu như thế này đã bao lâu rồi?”

Tôi bèn lược thuật những gì đã trải qua.

Ngài hỏi: “Ai dạy cậu làm như thế?”

Tôi đáp: “Vì thấy cổ nhân rất nhiều người đều nhờ tu khổ hạnh mà thành Đạo, vì thế con liền muốn học theo”.

Ngài hỏi: “Cậu đã biết người xưa tu thân, thế có biết người xưa tu tâm thế nào không? Cậu làm thế rất gần với ngoại đạo, không phải là con đường chính, uổng phí cả mười năm công phu. Cậu nghỉ trong hang, ăn đồ núi, thọ mệnh vạn năm, nhưng bất quá chỉ là một trong mười loại Tiên giảng trong Kinh Lăng Nghiêm. Đường đi vẫn còn xa lắm, cho dù tiến được một bước, chứng đắc được quả vị sơ cấp, thì chẳng qua vẫn chỉ là tự lo cho bản thân mà thôi. Nên phát tâm Bồ Tát, trên cầu Phật, dưới hóa độ chúng sinh, vừa độ mình vừa độ người, xuất thế gian không rời pháp thế gian. Cậu miễn cưỡng nhịn ăn, ngay cả quần cũng không có mà mặc, khó tránh khỏi thể hiện ra vẻ kỳ dị khác thường, trách sao không thể tu thành công phu được”.

Tôi bị lão nhân cho một dùi vào đúng chỗ đau, thấu đến tận cùng. Tôi liền đảnh lễ cầu xin ngài ấy khai thị. Pháp sư nói: “Ta dạy cậu, nếu nghe thì ở đây, nếu không nghe thì tùy cậu cứ đi”.

Tôi đáp: “Con đặc biệt đến đây xin được gần gũi ngài, sao dám không nghe lời chỉ dạy”.

Pháp sư liền tặng cho tôi quần áo giày dép, rồi bảo tôi đi cạo tóc, tắm rửa, làm các việc. Ngài lại dạy tôi câu thoại “Tha tử thi thị thùy” (kéo lê cái xác chết này là ai). Từ đó tôi ăn cháo ăn cơm, học giáo lý phái Thiên Thai, siêng năng làm việc, được sư phụ khen ngợi.

Hòa thượng Hư Vân. (Ảnh: Wikipedia)

Năm Quang Tự thứ nhất (năm Ất Hợi 1875), 36 tuổi

Tôi đến chùa Cao Minh nghe Pháp sư Mẫn Hy giảng “Kinh Pháp Hoa”. Tôi từ biệt lão Pháp sư Dung Kính, trong lòng quyến luyến không nỡ rời đi. Tôi cùng ngài đàm đạo suốt mấy đêm, sau đó trân trọng nói lời cáo biệt. Tôi xuống núi đi qua Tuyết Đậu, đến chùa Nhạc Lâm, nghe “Kinh A Di Đà”, sau lại vượt biển đến núi Phổ Đà rồi ở lại chùa đón năm mới.

Khi ở núi Phổ Đà, tôi đi tham quan khắp các chùa tháp. Vào tháng 10 năm ấy có một con cá lớn lên theo thủy triều, dạt vào bãi cát Thiên Bộ, bị mắc kẹt ở đó không thể đi được. Thân cá dài mấy trăm thước, mắt to như cái chậu. Ngư dân rạch bụng cá ra thì thấy hai con thuyền gỗ nhỏ, trong có các vật như tóc, trâm, vòng, v.v. Người ta lấy xương sống của cá làm bệ đỡ cột trụ, các xương lớn làm rường cột.

Vào lúc thủy triều dâng lên có một con rồng xuất hiện ở động Triều Dương. Vảy rồng màu vàng kim, đuôi giống đuôi cá, hiện ra đầy đủ cả bốn chân và toàn thân nhưng lại không thấy đầu, sau một lúc lâu thì biến mất.

Năm Quang Tự thứ ba (năm Đinh Sửu 1877), 38 tuổi

Từ Ninh Ba tôi đến Hàng Châu, đi về phía đền cổ Tam Thiên Trúc và thăm Thánh cảnh các nơi. Lên đến lưng chừng núi tôi vào lễ hòa thượng Thiên Lãng và Tây đường Trường Tùng (“Tây đường” là một chức vị trong chùa). Tôi ở lại chùa Tây Thiên Mục qua mùa đông.

Tôi đến Hàng Châu đúng vào những ngày nắng nóng. Vì thuyền nhỏ người lại đông, tôi đành phải ngủ chung với thanh niên và phụ nữ. Đêm khuya đương lúc ngủ say, tôi bỗng thấy có người vuốt ve cơ thể mình. Tôi giật mình tỉnh dậy, thấy bên cạnh có một cô gái cởi áo tiến lại gần. Tôi không dám lên tiếng, chỉ ngồi ngay dậy đả tọa, trì chú. Cô gái thấy thế thì chẳng dám động đậy. Lúc này nếu không có tuệ giác soi sáng thì hỏng rồi, vậy nên tôi muốn nhắn nhủ những người tu hành rằng: nhất định phải cẩn trọng!

(Theo lời kể của hòa thượng Hư Vân, lược trích từ “Hư Vân hòa thượng niên phổ”)
Minh Hạnh biên dịch



BÀI CHỌN LỌC

Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (1/3)