Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (2/3)

Giúp NTDVN sửa lỗi

Từ đạo tràng của Bồ Tát Quan Âm đến Thánh địa của Văn Thù Bồ Tát, ngài thắp hương lễ bái, cứ ba bước lạy một lạy, cuối cùng được thấy Bồ Tát hiện thân.

Đi ba bước, lạy một lạy

Năm Quang Tự thứ tám (năm Nhâm Ngọ 1882), 43 tuổi

Tôi cắt duyên thế tục với người thân, xuất gia đã hai mươi năm có lẻ nhưng Đạo nghiệp vẫn chưa thành, cứ mãi trôi dạt theo gió, trong lòng không khỏi cảm thấy hổ thẹn. Vì muốn báo đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, tôi dự định về Nam Hải ở phía đông, rồi lên phía bắc lễ Ngũ Đài. Tôi ở núi Phổ Đà được vài tháng, trong khi nhập tĩnh thấy vài cảnh tượng thù thắng, sau đó tôi phát tâm đến Ngũ Đài.

Vào ngày đầu tháng 7, tôi thắp hương ở am Pháp Hoa núi Phổ Đà, sau đó cứ ba bước lạy một lạy, quyết sẽ lạy mãi cho đến khi tới Ngũ Đài mới thôi. Lúc ấy người phụ hương có bốn thiền sư là Biến Chân, Thu Ngưng, Sơn Hà, Giác Thừa. Sau khi qua biển, mỗi ngày không đi được nhiều, giữa đường chúng tôi dừng chân ở Hồ Châu, rồi đến Tô Châu, Thường Châu. Sau đó cả bốn người dần dần rút lui, chỉ còn tôi là vẫn hướng về phía trước lễ bái. Khi đến Nam Kinh tôi bái tháp Ngưu Đầu Dung Tổ, vượt qua sông, rồi dừng lại tại chùa Sư Tử Sơn ở Phổ Khẩu qua năm mới.

Năm Quang Tự thứ chín (năm Quý Mùi 1883), 44 tuổi

Sau khi dâng hương ở chùa Sư Tử Sơn tôi lại tiếp tục hành trình. Từ bắc Giang Tô vào tỉnh Hà Nam, qua Phụng Dương, Hào Châu, Hạo Lăng, Tung Sơn, Thiếu Lâm Tự, sau đó đến chùa Bạch Mã ở Lạc Dương. Ngày đi đêm nghỉ, gió mưa sáng tối, đi như thế, lạy như thế, vẫn một lòng niệm Thánh hiệu Bồ Tát, không vì khổ vui no đói mà vướng bận trong lòng, vẫn tiếp tục niệm vậy.

Tháng Chạp tôi đến Hoàng Hà, qua Thiết Tá, lại qua lăng Quang Vũ. Mùng 1 trú ở quán trọ, mùng 2 qua sông. Thuyền ghé vào bờ, tôi thấy trời đã muộn nên không dám đi. Bốn bề không có người ở, chỉ thấy bên đường có một túp lều nhỏ làm quán hàng. Vì không có người nên tôi vào nghỉ chân chốn này, một mình ngồi bắt chéo chân ở đó. Đêm khuya giá lạnh, tuyết dày bao phủ, sáng hôm sau ngước mắt lên nhìn thì thấy tất cả đã hóa thành thế giới Lưu Ly. Tuyết dày hàng thước, không còn đường đi, không người qua lại, càng không biết phải đi về hướng nào. Tôi ngồi niệm Phật, chịu đói chịu lạnh, vì lều tranh không có vách che nên tôi co mình nép vào một góc. Tuyết càng lớn, trời càng lạnh, bụng càng đói, chỉ còn lại hơi thở, nhưng chính niệm vẫn không bao giờ quên.

Một ngày. Hai ngày. Ba ngày. Tuyết vẫn như thế. Lạnh vẫn như thế. Đói vẫn như thế. Tôi dần dần rơi vào trạng thái hôn mê. Chiều mùng 6 tuyết ngừng rơi, chỉ thấy lờ mờ bóng mặt trời, tôi bệnh nên chẳng thể dậy được. Đến mùng 7 bỗng có một người hành khất đến, thấy tôi nằm trong tuyết vị ấy liền đến hỏi thăm, nhưng tôi không thể nói được. Biết tôi bị đông cứng, vị ấy liền gạt tuyết ra, lấy cỏ trên mái nhóm lửa rồi nấu cháo kê vàng cho tôi ăn. Tôi được sưởi ấm nên dần dần hồi sinh.

Vị ấy hỏi: “Ngài từ đâu đến?”

Tôi đáp: “Tôi từ Nam Hải”.

Vị ấy hỏi: “Ngài định đi đâu?”

Tôi đáp: “Đến Ngũ Đài”.

Tôi lại hỏi tính danh người hành khất, vị ấy đáp: “Tôi họ Văn, tên Cát”

Tôi hỏi: “Ngài sống ở đâu?”

Vị ấy đáp: “Tôi đến từ Ngũ Đài, nay đi về Trường An”.

Tôi hỏi: “Nếu ngài từ Ngũ Đài, vậy trong chùa có thấy người qua lại không?”

Người hành khất đáp: “Ở đó mọi người đều biết tôi cả”.

Tôi hỏi: “Đường từ đây đến Ngũ Đài phải đi qua những đâu?”

Vị ấy đáp: “Đi qua Mạnh Huyện, Hoài Khánh, Hoàng Sa Lĩnh, Tân Châu, Thái Cốc, tỉnh Thái Nguyên, Đại Châu, Nga Khẩu thì tới núi. Khi đến Bí Ma Nham, sẽ thấy vị tăng từ phương nam tên là Thanh Nhất, hạnh trì rất tốt”.

Tôi hỏi: “Từ đây đến núi bao xa?”

Người hành khất đáp: “Hơn hai ngàn dặm”.

Khi nắng lên, người hành khất lại nấu cháo kê vàng, lấy tuyết thay cho nước. Vị ấy chỉ tay vào trong nồi hỏi tôi: “Nam Hải có thứ này không?”

Tôi đáp: “Không có”.

Người hành khất hỏi: “Thế ăn cháo bằng gì?”

Tôi đáp: “Ăn bằng nước”.

Khi tuyết tan, người hành khất chỉ tay vào nước trong nồi và hỏi: “Thế đây là gì?” Tôi không biết phải trả lời ra sao.

Người hành khất nói: “Ngài bái danh sơn cầu điều chi?”

Tôi đáp: “Tôi sinh ra không được thấy mẹ hiền, vì muốn báo ơn từ mẫu nên bái lạy”.

Người hành khất hỏi: “Ngài lưng mang hành lý, đường xa trời lạnh, khi nào mới có thể đến nơi được đây? Tôi khuyên ngài đừng bái hương nữa”.

Tôi đáp: “Thệ nguyện sớm đã định, chẳng kể đường xa hay ngắn, cũng chẳng kể năm tháng ngắn hay dài”.

Người hành khất nói: “Ước nguyện của ngài khó đạt được. Hiện nay thời tiết đã chuyển biến tốt hơn, nhưng tuyết vẫn chưa tan, không thể tìm đường được. Ngài hãy lần theo dấu chân tôi mà đi, đi như thế khoảng 20 dặm sẽ thấy núi Tiểu Kim Sơn, đi thêm 20 dặm nữa sẽ đến Mạnh Huyện, ở đó có chùa cho ngài nghỉ lại”.

Sau đó tôi chắp tay từ biệt. Vì tuyết ngập sâu không thể vái lạy như trước, tôi đành phải nhìn theo dấu chân mà làm lễ. Tôi đến Tiểu Kim Sơn nghỉ qua đêm, hôm sau thắp hương rồi qua Mạnh Huyện, từ Mạnh Huyện đến Hoài Khánh (Thấm Dương), trên đường đi qua chùa Hồng Phúc. Một lão hòa thượng tên là Đức Lâm thấy tôi bái lạy trên đường liền đến trước mặt, cầm chiếc hương đăng tới đón tiếp.

Vị ấy nói: “Thỉnh mời Thượng tọa vào chùa”, nói rồi sai đồ đệ xách hành lý vào chùa và ân cần chiêu đãi.

Sau bữa cơm trà, vị ấy hỏi tôi: “Thượng tọa từ nơi nào bái lạy đến đây?”

Tôi lược thuật rằng vì muốn báo ơn cha mẹ nên tôi từ Phổ Đà bái lạy đến đây, tới nay đã được hai năm rồi.

Nghe nói tôi xuất gia ở Cổ Sơn, lão hoà thượng bất giác rơi lệ: “Tôi có ba người đồng tu, một ở Hành Dương, một ở Phúc Châu, cùng với tôi là ba. Ba chúng tôi cùng lên núi, cùng sống trong rừng gần ba mươi năm. Sau đó chúng tôi chia tay và từ đó bặt vô âm tín. Nay nghe Thượng tọa nói giọng Hồ Nam, lại là Phật tử ở Cổ Sơn, tôi như được gặp lại các bạn đồng tu, bất giác động lòng. Tôi năm nay đã 85 tuổi rồi, chùa đây vốn sung túc, những năm gần đây có chút mất mùa, tuyết lớn đầy đồng, nhưng sang năm tất sẽ lại bội thu. Thượng tọa có thể ở lại đây”.

Ngài ấy nói với vẻ chí thành tha thiết, tôi đành miễn cưỡng ở lại chùa đón năm mới.

Hòa thượng Hư Vân (giữa) (Ảnh: Wikipedia)

Năm Quang Tự thứ 10 (năm Giáp Thân 1884), 45 tuổi

Vào mùng 2 tháng Giêng âm lịch, tôi thắp hương bái lạy từ chùa Hồng Phúc, đến phủ Hoài Khánh, rồi lại quay trở lại nghỉ qua đêm trong chùa, đến mùng 3 thì cáo biệt hòa thượng Đức Lâm. Ngài ấy khóc lớn không nỡ chia tay, tôi trân trọng nói lời từ biệt. Cùng hôm ấy tôi đến phủ thành nội Tiểu Nam Hải, vì nơi đây không cho phép ngủ ở chùa qua đêm, tôi bèn ra khỏi thành tá túc ở ven đường.

Đêm ấy tôi đau bụng quá đỗi, nhưng ngày mùng 4 vẫn cố dậy sớm đi lễ lạy, đến tối thì bị cảm lạnh. Đến mùng 5 bị bệnh lỵ, nhưng mỗi ngày vẫn gắng gượng bái lạy.

Ngày 13 tôi đến Hoàng Sa Lĩnh, trên đỉnh núi chỉ có một ngôi chùa đổ nát. Đến đây tôi không thể đi lại được nữa, bèn nằm xuống nghỉ. Không đồ ăn thức uống, ngày đêm tiêu chảy cả chục lần, tôi đã không còn sức lực cử động được nữa. Chùa nằm trên đỉnh núi, không người qua lại, tôi chỉ còn cách nhắm mắt chờ chết mà thôi, nhưng trong lòng không hề có ý nghĩ hối hận.

Đêm khuya ngày 15, tôi thấy dưới bức tường phía tây có người đốt lửa, nghi là thổ phỉ, nhưng nhìn kỹ hồi lâu lại thấy là Văn Cát. Tôi mừng rỡ, liền gọi Văn Cát tiên sinh. Ông cầm đuốc đến soi sáng, hỏi: “Đại sư phụ, sao ngài vẫn còn ở đây?”

Tôi bèn kể lại những chuyện đã trải qua. Văn Cát liền ngồi xuống bên cạnh an ủi tôi, lại lấy một cốc nước đưa tôi uống. Tối hôm ấy tôi được gặp Văn Cát, thân tâm trở nên thanh tịnh.

Ngày 16, Văn Cát giặt sạch bộ quần áo bẩn của tôi và mang cho tôi một chén thuốc. Ngày 17 bệnh tình thuyên giảm. Tôi ăn hai bát cháo kê vàng, mồ hôi túa ra đầm đìa, trong ngoài thấy vô cùng nhẹ nhõm. Ngày 18 bệnh đã gần khỏi, tôi liền cảm tạ Văn Cát: “Hai lần tôi gặp nguy kịch đều nhờ có tiên sinh cứu giúp, trong lòng cảm ân mãi không thôi”.

Văn Cát nói: “Chỉ là chuyện nhỏ thôi”.

Tôi hỏi Văn Cát: “Ngài từ đâu đến?”

Văn Cát đáp: “Từ Trường An”.

Tôi hỏi: “Giờ ngài đi đâu”.

Văn Cát đáp: “Về Ngũ Đài”.

Tôi nói: “Đáng tiếc tôi đang bệnh, lại phải vừa đi vừa bái lạy, không thể theo kịp tiên sinh được”.

Văn Cát nói: “Tôi thấy từ tháng Chạp năm ngoái đến giờ ngài bái lạy không được nhiều, vậy đến năm nào mới có thể tới nơi? Sức khỏe ngài lại không tốt, rất khó thực hiện được việc này, hà tất cứ phải bái lạy, có lễ bái hay không thì cũng như nhau cả thôi”.

Tôi nói: “Ý tốt của tiên sinh tôi rất cảm kích, nhưng tôi vừa sinh ra đã không thấy mẫu thân, mẹ vì sinh tôi mà chết. Cha chỉ có mình tôi là con trai, tôi lại trái lời cha trốn khỏi nhà, cha lại vì tôi mà từ quan rồi đoản thọ. Trời xanh rộng lớn, vậy mà đã mấy chục năm rồi. Tôi phát nguyện lên núi, cầu Bồ Tát gia trì, nguyện cho cha mẹ tôi thoát khổ, sớm vãng sinh vào cõi Tịnh Thổ, nào quản chi khổ nạn trước mắt? Chưa đến Thánh cảnh thì dẫu chết tôi cũng không dám rút lại lời thệ nguyện”.

Văn Cát nói: “Ngài thành tâm hiếu thảo như vậy thật là hiếm có. Nay tôi về núi nhưng không phải việc cấp bách, tôi nguyện giúp ngài cõng hành lý, cùng làm bạn với ngài trên hành trình. Ngài đi trước bái lạy, như thế sẽ đỡ mệt hơn rất nhiều, tôi nguyện ý giúp ngài không dám hai lòng”.

Tôi nói: “Nếu được như thế, tiên sinh thực công đức vô lượng. Khi tôi bái đến Ngũ Đài, nguyện đem công đức này: một nửa cầu cho cha mẹ sớm chứng Bồ Đề, một nửa kính dâng lên tiên sinh, lấy đó báo đáp công đức cứu giúp của tiên sinh. Vậy có được không?”

Văn Cát nói: “Không dám, ngài có lòng hiếu thảo, còn tôi thì chỉ là thuận tiện, ngài không cần phải cảm ơn”.

Văn Cát chăm sóc cho tôi suốt bốn ngày, nhờ đó bệnh tình cũng đỡ hơn rất nhiều.

Ngày 19 tôi thắp hương trong lúc vẫn còn đau ốm. Mọi việc từ mang hành lý đến chuẩn bị đồ ăn đều do Văn Cát lo liệu, nhờ đó mọi vọng niệm trong tôi đều dứt hẳn. Ngoài không vật lụy, trong không vọng niệm, bệnh ngày càng càng đỡ, thân thể ngày càng khỏe mạnh. Từ sáng đến tối, vừa đi vừa bái lạy đã được 45 dặm đường, nhưng tôi không hề thấy khổ.

Cuối tháng 2 chúng tôi tới huyện Thái Cốc, chùa Ly Tướng. Chúng tôi thấy vị tăng Tri khách liền đến đảnh lễ. Vị tăng Tri khách quay lại nhìn Văn Cát rồi hỏi tôi: “Vị này là người nào của ngài?”. Tôi liền kể lại mọi chuyện.

Tri khách nghiêm giọng nói: “Ra khỏi cửa đi bộ, thật không hiểu thời vụ! Mấy năm nay đất bắc đói kém như thế mà vẫn còn tham bái núi này núi nọ! Có làm đại quan gì đâu mà còn đòi người khác theo hầu! Muốn hưởng phúc thì cần gì phải ra ngoài đi như vậy? Ngài thấy có chùa xứ nào cho khách tục ngủ lại hay không?”

Đột nhiên nghe ngài ấy trách mắng, tôi không dám đáp lời, chỉ nhận sai rồi cáo từ chực rời đi.

Tri khách nói: “Há lại có lý nào như vậy? Ngài tự tiện đến, ai bảo ngài đi”.

Tôi nghe lời ấy cảm thấy không đúng lắm, chỉ đành quay lại nói với Văn Cát: “Văn Cát tiên sinh, mời tiên sinh đến nghỉ ở quán trọ, còn tôi ở đây làm phiền nhà chùa một đêm, vậy có được không?”

Tri khách đáp: “Cũng được”.

Văn Cát nói: “Từ đây đến Ngũ Đài cũng không xa lắm. Vậy tôi về trước, ngài cứ từ từ đến cũng được, hành lý của ngài không lâu nữa sẽ có người thay tôi mang hộ ngài lên núi”.

Tôi khổ nhọc cố giữ Văn Cát lại nhưng không được, bèn lấy bạc ra để báo đáp nhưng ông cũng không nhận. Văn Cát liền từ biệt rồi đi.

Sau đó vị tăng Tri khách đổi sắc mặt ra vẻ vui mừng, hòa ái dẫn tôi vào chùa nghỉ đêm. Vị ấy vào phòng bếp nhóm lửa pha trà, lại tự tay làm mỳ mời tôi ăn. Tôi thấy kỳ lạ, ngoảnh trước ngoảnh sau không thấy có người, liền hỏi: “Ở đây có bao nhiêu tăng nhân thường trú?”

Vị ấy đáp: “Tôi ở Ngoại Giang nhiều năm rồi quay lại đây làm trụ trì. Ở đây đã liên tiếp mấy năm mất mùa nên chỉ còn lại một mình tôi. Lương thực chỉ có thế này thôi. Vừa rồi tôi nói như vậy chỉ là đùa thôi, mong ngài chớ để bụng”.

Tôi rất buồn, không biết nên khóc hay nên cười, chỉ miễn cưỡng ăn nửa bát mỳ rồi lập tức cáo từ. Vị tăng Tri khách cố giữ lại nhưng tôi không có lòng nhận lời. Sau đó tôi đến quán trọ tìm Văn Cát nhưng không thấy.

Ngày 18 tháng 4, trăng sáng vằng vặc, tôi muốn đuổi theo Văn Cát. Trong đêm đầy sao tôi hướng đến phủ Thái Nguyên thắp hương và đi về phía trước, trong tâm gấp gáp như lửa đốt. Hôm sau tôi phát sốt, mũi chảy máu không ngừng.

Ngày 20 tôi đến chùa Bạch Vân ở Hoàng Thổ Câu. Vị tăng Tri khách thấy miệng tôi chảy máu nên không cho ngủ lại chùa. Tôi gắng gượng qua một đêm. Sáng ngày 21 tôi vào thành Thái Nguyên, đến chùa Cực Lạc, lại chịu đủ mọi lời trách mắng và không được ngủ lại chùa.

Sáng ngày 22 tôi ra khỏi thành tiếp tục lễ bái. Bên ngoài cửa bắc tôi gặp một vị tăng trẻ tuổi tên là Văn Hiền. Vị ấy nhìn thấy tôi liền bước đến gần chào hỏi, mang hộ hành lý và mời tôi vào chùa, ái kính như người thân, sau đó lại dẫn tôi đến phòng phương trượng. Ngài mời tôi dùng cơm và trà rồi cùng trò chuyện. Tôi hỏi: “Đại hòa thượng trông như chỉ mới ngoài hai mươi, lại là người ngoại tỉnh, vì sao có thể làm trụ trì ở đây?”

Vị ấy đáp: “Cha tôi làm quan ở đây đã nhiều năm, sau được nhậm chức ở phủ Bình Dương, nhưng lại bị gian thần hãm hại. Mẹ tôi uất ức mà chết, còn tôi rớt nước mắt xuất gia. Quan lại và thân sĩ địa phương từng qua lại với cha tôi liền mời tôi về đây, nhưng tôi chỉ muốn rời khỏi chốn này. Nay trông Thượng tọa có Đạo phong, trong tâm tôi rất kính phục, mong ngài ở lại đây lâu dài để tôi được gần gũi”.

Tôi bèn kể lại duyên cớ phát nguyện thắp hương lễ bái. Vị trụ trì rất tôn kính, nhất quyết giữ tôi ở lại mười ngày rồi mới để cho đi, trước khi chia tay lại tặng tôi quần áo và lộ phí, nhưng tôi đều từ chối. Ngài ấy lại mang giúp hành lý và đưa tiễn hơn mười dặm đường, tôi rơi lệ từ biệt.

Ngày mùng 1 tháng 10, tôi thẳng tiến đến Hãn Châu.

Một buổi sáng khi tôi đang trên đường hương bái, từ phía sau có một chiếc xe ngựa dần dần đi chậm lại mà không vượt lên trước. Tôi bèn tránh sang một bên, vị quan trong xe bước xuống hỏi: “Đại sư bái gì trên đường vậy?”

Tôi bèn kể lại duyên cớ, vị quan nhân cũng là người Hồ Nam, nói chuyện với tôi rất hợp lòng. Ngài ấy nói: “Thế này đi, tôi hiện đang ở chùa Bạch Vân tại Nga Khẩu. Ngài lên Ngũ Đài tất phải đi qua nơi ấy, chỗ hành lý này tôi sẽ thay ngài mang đến trước”.

Tôi chắp tay cảm tạ, vị quan nhân lại lên xe rời đi.

Tôi vẫn ngày ngày thắp hương lễ bái, không dám chậm trễ. Trong tháng 5 tôi đến chùa Bạch Vân. Người thay tôi mang hành lý là vị quan cai quản doanh trại, ngài ấy vừa thấy tôi liền mời vào doanh và ưu ái tiếp đãi. Tôi nghỉ ở đó ba ngày rồi cáo từ. Ngài ấy lại tặng tôi tiền lộ phí và lễ vật nhưng tôi đều từ chối. Cuối cùng, ngài ấy phái quân mang hành lý của tôi cùng với ngân lượng cúng dường đến chùa Hiển Thông.

Tôi thắp hương tiếp tục hành trình, lần lượt đến Bí Ma Nham, núi Khuê Phong, Sư Tử Oa, Long Động, v.v. Kỳ tích nước non không sao tả xiết. Tôi vẫn bận hương bái, chưa thể lĩnh hội được cảnh đẹp. Cuối tháng 5 khi tôi đến chùa Hiển Thông thì quan quân đã mang hành lý đến đó rồi. Tôi bèn xuống núi.

Thì ra là Bồ Tát hiện thân

Tôi nghỉ lại ở chùa Hiển Thông rồi đến các tháp ở gần đó dâng hương, hỏi thăm khắp nơi về một người tên là Văn Cát nhưng không ai hay biết. Về sau tôi kể lại tình tiết nguyên do cho một vị lão tăng, vị lão tăng chắp tay lại nói: “Đó là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát vậy”.

Tôi liền đảnh lễ cảm tạ Bồ Tát.

Ngày 22 tôi thắp hương, hai ngày sau bái đến Đông Đài (một đỉnh của Ngũ Đài). Buổi tối trăng sao sáng tỏ, tôi vào thạch thất dâng hương, sớm tối trong phòng lễ tụng và ngồi tọa thiền suốt bảy ngày. Sau đó tôi xuống núi Ngũ Đài bái hang Na La Diên [1].

Lúc này lương thực mang theo đã hết. Ngày mùng 1 tháng 6 tôi về chùa Hiển Thông, ngày mùng 2 dâng hương, lên đỉnh Hoa Nghiêm và qua đêm ở đó, mùng 3 bái Bắc Đài, qua đêm ở Trung Đài, mùng 4 bái Tây Đài và qua đêm ở đó. Mùng 5 tôi quay lại chùa Hiển Thông, mùng 7 bái Nam Đài. Tôi ở lại Nam Đài tọa thiền bảy ngày. Ngày 15 tôi xuống núi Ngũ Đài và quay lại chùa Hiển Thông, tham gia đại Phật hội vào tháng 6.

Vậy là ba năm đến Ngũ Đài dâng hương lễ bái cầu cho cha mẹ được siêu thoát, ước nguyện ấy đến nay đã hoàn tất.

Trong ba năm ấy, ngoại trừ những lúc gặp khốn khó vì bệnh tật, vì gió tuyết ngăn trở không thể hương bái được, tôi đều nhất tâm chính niệm, kiên trì lễ lạy trên đường. Trải qua mọi gian khó, giờ đây trong lòng hoan hỉ, tôi thường mượn cảnh xét lại tâm mình: càng cay đắng lại càng thấy tâm an. Vì thế tôi ngộ ra điều mà người xưa từng nói: tiêu được một phần tập khí, đắc được một phần quang minh, nhẫn được mười phần phiền não, chứng được vài phần Bồ Đề.

Những danh thắng tôi từng gặp trên đường, từ Phổ Đà đến Giang Tô, Chiết Giang, đến Trung Châu, Hoàng Hà, Thái Hành, biết bao thắng địa danh sơn nhiều không kể hết. Cổ kim du ký đã miêu tả rất tận tường, nhưng cũng không bằng niềm vui khi tự thân trải nghiệm. Ví như Ngũ Đài “thanh lương Thánh cảnh” (Thánh cảnh mát mẻ), Văn Thù tỏa ánh hào quang, ngàn trượng núi cao và lạnh, vạn năm tuyết phủ, cầu đá bắc ngang, lầu các treo lơ lửng trên không… đó đều là những cảnh không thấy được ở nơi khác. Trong những ngày hương bái tôi không kịp thưởng ngoạn, chỉ nguyện đến khi hoàn tất rồi mới đặt chân một chút du ngoạn, không muốn bị Linh Sơn chê cười.

Sau khi đại Phật hội kết thúc, tôi liền lên đỉnh Đại Loa, bái đèn Trí Huệ. Đêm đầu tiên không thấy gì đặc biệt, đến đêm thứ hai tôi thấy trên đỉnh Bắc Đài có một chùm lửa bay tới Trung Đài rồi rơi xuống, trong chốc lát liền phân thành hơn chục chùm to nhỏ khác nhau. Đêm thứ hai tôi lại thấy trên bầu trời Trung Đài có ba chùm lửa bay lên bay xuống, còn ở Bắc Đài hiện ra bốn, năm chỗ có chùm lửa, to nhỏ cũng khác nhau.

Ngày mùng 10 tháng 7, tôi bái tạ đức Văn Thù Bồ Tát và xuống núi. Từ đỉnh Hoa Nghiêm tôi đi về phía bắc, đến Đại Doanh ở phía nam Hồn Nguyên, sau lại về Bắc Nhạc Hằng Sơn, tới Hổ Phong Khẩu. Cứ lên cao mãi sẽ thấy một Thạch phường (cổng vòm cao bằng đá) khắc dòng chữ “Sóc phương đệ nhất sơn” (ngọn núi số 1 ở phương bắc), vào thăm chùa thấy tầng mây chọc trời, các phiến đá cao lớn lô nhô đứng như rừng.

Tôi thắp hương xuống núi, đến phủ Bình Dương (nay là Lâm Phần), thăm động Tiên khắp nam bắc. Phía nam thành có miếu thờ vua Nghiêu trông vô cùng tráng lệ. Lại đi về phía nam đến thôn Lô ở Bồ Châu, lễ miếu Hán Thọ Đình Hầu, qua sông Hoàng Hà, vượt Đồng Quan, vào Thiểm Tây, đến Hoa Âm, lên núi Thái Hoa, lễ miếu Tây Nhạc Hoa Sơn, vịn dây xích leo lên Thiên Xích Tràng, tới hẻm Bách Xích Hạp, đến Lão Quân Lê Câu [2]. Các danh thắng có rất nhiều. Tôi ở lại đó tám ngày, ngưỡng mộ hai vị thánh Tề Di (Bá Di và Thúc Tề). Sau lại chu du đến núi Thủ Dương, tới chùa Quan Âm ở Hương Sơn thuộc phía tây nam Thiểm Tây, thăm mộ Trang Vương, vào Cam Túc, qua Bình Lương ở Kinh Xuyên, đến núi Không Động. Mây bay về chiều, một năm sắp hết, tôi lại trở về Hương Sơn qua năm mới.

(Còn tiếp)

(Theo lời kể của hòa thượng Hư Vân, lược trích từ “Hư Vân hòa thượng niên phổ”)
Minh Hạnh biên dịch

Chú thích:

[1] Hang Na La Diên (Narayan) là một thắng cảnh ở núi Ngũ Đài, cách đỉnh Đông Đài 500m, được cho là nơi cư ngụ của Bồ Tát Văn Thù và Thần Long. Tương truyền, Pháp vương Như Ý Bảo từng gặp Văn Thù Bồ Tát và đến đây. Na La Diên là tên của một vị Thần Kim Cang Hộ Pháp trong Phật giáo.

[2] Thiên Xích Tràng là con đường hẹp giữa hai bên vách đá, có hơn 370 bậc thang. Bách Xích Hạp là con dốc lên núi, nối tiếp sau Thiên Xích Tràng. Lão Quân Lê Câu là một con đường trông giống như rãnh cày nằm giữa những bức tường đá dốc đứng với hơn 750 bậc đá. Truyền thuyết kể rằng xưa kia nơi đây không có đường, Lão Quân bèn cưỡi con trâu xanh và dùng chiếc cày sắt để mở đường, vậy nên nơi đây mới có địa hình kỳ lạ như vậy. Người dân địa phương có câu nói: “Thiên Xích Tràng, Bách Xích Hạp, Lão Quân Lê Câu mạn mạn ba” (đi hết Thiên Xích Tràng, sau đó tới Bách Xích Hạp, cuối cùng tới Lão Quân Lê Câu, cứ chầm chầm mà leo lên núi).



BÀI CHỌN LỌC

Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (2/3)