Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (3/3)

Giúp NTDVN sửa lỗi

Từ đạo tràng của Bồ Tát Quan Âm đến Thánh địa của Văn Thù Bồ Tát, ngài thắp hương lễ bái, cứ ba bước lạy một lạy, cuối cùng được thấy Bồ Tát hiện thân.

Độc hành vạn lý

Năm Quang Tự thứ 15 (năm Kỷ Sửu 1889), 50 tuổi

(Vào năm Quang Tự thứ 14, hòa thượng Hư Vân du hành đến Tây Tạng và ở lại đó qua năm mới).

Tôi không muốn ở lại Tây Tạng, vậy nên chờ đến lúc khai xuân liền khởi hành đi về phía nam, qua Lạp Cát, Á Đông, đây cũng là cửa ngõ đầu tiên từ Tây Tạng đến Ấn Độ. Băng qua Bhutan, vượt qua muôn ngàn núi cao chót vót mà tôi không biết tên gọi là gì, hoặc gọi núi ấy là Thông Lĩnh, hoặc gọi là Tuyết Sơn (​​Himalaya). Có câu thơ rằng:

Hà vật hoành thiên tế
Tình không nhập vọng trung
Giá ban ngân thế giới
Vô dị ngọc linh lung.

Dịch thơ:

Rặng dài nơi xa tít
Trời trong rõ nét ngang
Một cõi thuần mầu bạc
Như ngọc ánh long lanh. (bản dịch của Dharmasite.net)

Tôi đến thành Dương Phủ, lên thăm di tích Phật, đến cảng lớn ở Bangladesh, vượt biển sang Sri Lanka. Sau khi viếng thăm các Thánh địa tôi đi thuyền tới Myanmar, thăm Đại Kim tháp, sau đó đến Cát Đế Lợi ở Ma La Miễn. Ở đây có một cự thạch rất kỳ lạ, người ta nói là Tôn giả Mục Kiền Liên đặt, rất nhiều người mộ danh đều tới đây lễ bái.

Tháng 7 tôi lên đường trở về cố quốc. Từ Lạp Tuất (Lashio) qua ải Hán Long, tức biên giới tỉnh Vân Nam, đến Miễn Ninh, Long Lăng, Cảnh Đông, Mông Hóa, Triệu Châu, Hạ Quan. Đến Đại Lý, xem sóng bạc hồ Nhị Hải, từ cách xa hàng dặm đã nghe tiếng sóng vỗ, lòng không khỏi cảm thán một kỳ quan!

Nguyện đầu tiên của tôi khi về nước là đến thăm núi Kê Túc, lễ tôn giả Ca Diếp (nơi ngài nhập định đợi Đức Phật Di Lặc hạ sinh). Tôi băng qua hồ Nhị Hải, đi về phía đông bắc, qua Oạt Sắc, Bách Đam, Bình Sa, Sơn Giác, miếu An Bang Đại Vương. Đến Linh Sơn Nhất Hội Phường (tức chân núi Kê Túc), thấy lưng chừng núi có chỗ đất bằng phẳng gọi là Minh Ca Bình. Tương truyền, khi tôn giả Ca Diếp vào trong núi đã có tám quốc vương đưa tiễn ngài. Khi tới đây họ không đành lòng rời đi, bèn ở lại trong núi tu hành, trở thành Thần Hộ Pháp, chính là nơi miếu Đại Vương ngày nay.

Tôi đi thẳng đến điện Ca Diếp, trong điện thờ bức tượng tôn giả. Tương truyền, khi tôn giả A Nan đến đây, cửa đá đã tự động mở ra. Đó là một hang đá treo, bên trong hang là nơi tôn giả Ca Diếp nhập định. Thạch bích biến thành cửa đá gọi là cửa Hoa Thủ, trông hệt như cổng thành, cao mấy trăm thước, rộng hơn trăm thước. Hai cánh cửa đã đóng chặt nhưng vẫn có thể thấy rõ ràng khe giữa hai cánh cửa ấy.

Hôm ấy có khá đông du khách và người địa phương đi theo dẫn đường. Khi tôi đang dâng hương lễ bái thì đột nhiên nghe thấy ba tiếng chuông lớn. Người dân địa phương ai cũng hoan hô lễ bái, nói rằng ấy là vì có dị nhân đến. Lại nghe thấy tiếng chuông trống và mõ khánh, họ nói: ‘Chúng tôi từng nghe thấy một, hai lần tiếng trống và mõ khánh, nhưng chưa từng nghe tiếng chuông lớn như thế bao giờ. Nay sư phụ đến lễ bái lại có tiếng chuông lớn, ngài hẳn là có Đạo hạnh cao thâm’. Tôi liền cảm tạ không dám nhận. Hôm ấy là ngày 30 tháng 7 năm Kỷ Sửu.

Tôi lên đỉnh Thiên Trụ, đây là nơi cao nhất cả tòa núi, cách chân núi khoảng 30 dặm. Tại đây có một tòa điện bằng đồng và một tòa tháp Lăng Nghiêm. Theo ghi chép trong ‘Sơn chí’ thì toàn núi có 360 am, 72 đại tự, nhưng đến nay toàn núi chỉ còn lại chưa tới mười ngôi chùa. Tăng ni không khác gì kẻ tục, có con cháu thừa kế và thụ hưởng sản nghiệp, những ai không phải con cháu núi này thì không được phép sống ở trong núi và không được nghỉ lại qua đêm. Ngẫm lại xưa kia Pháp hội hưng thịnh, đến nay nhân sự suy đồi mà không khỏi thở dài than tiếc mãi. Trong lòng tôi muốn làm điều gì đó, nhưng không biết cơ duyên của mình có ở đây không.

Tôi lại xuống núi. Từ núi Lương Vương, Cửu Phong, đến huyện Vân Nam, qua núi Cửu Mục, Linh Thứu, Tử Khê, đến phủ Sở Hùng, trú ở chùa Cao Đỉnh bên ngoài Tây Môn. Khi tôi vừa mới đến không lâu liền ngửi thấy hương hoa lan tràn ngập khắp trong phòng. Vị tăng Chấp sự chúc mừng tôi, ông nói: ‘Thượng tọa vừa đến, Lan Tiên liền tỏa hương thơm, thật là điều hiếm có. ‘Phủ chí’ ghi chép rằng: Trong núi có vị Tiên hoa lan, vô hình vô ảnh, mỗi khi có Chân nhân đến thì sẽ tỏa hương thơm. Hôm nay hương hoa lan tràn ngập núi, ấy là vì cảm được âm đức của Thượng tọa vậy’.

Vị tăng ấy ân cần chiêu đãi, cố giữ tôi ở lại lâu hơn. Nhưng vì tôi đang gấp gáp trở về Hồ Nam nên xin khước từ, chỉ ở lại một đêm rồi đi ngay. Tôi qua phủ Côn Minh, phủ Khúc Tĩnh, đến Bình Di tỉnh Quý Châu, men theo đường phía đông mà đi, qua Quý Dương, Trấn Viễn, vào Ma Dương, Chỉ Giang ở phía tây của Hồ Nam, qua phủ Bảo Khánh, đến Hành Dương, lễ hòa thượng Hằng Chí ở Kỳ Sơn, ở lại đó mười ngày rồi đi về phía bắc.

Tôi đến Vũ Xương ở Hồ Bắc, lễ bái hòa thượng Chí Ma ở chùa Bảo Thông, học xong “Đại Bi Sám Pháp” rồi đi Cửu Giang, vào Lư Sơn, lễ hòa thượng Chí Thiện tại chùa Hải Hội, lại tham gia pháp hội niệm Phật. Sau đó, tôi ghé tỉnh An Huy, thăm núi Hoàng Sơn, tới núi Cửu Hoa lễ tháp Địa Tạng Bồ Tát, đến cung Bá Niên, lễ bái hòa thượng Bảo Ngộ. Ngài là đại lão hòa thượng có giới hạnh tinh nghiêm và định lực bậc nhất. Sau đó tôi băng qua sông, đến núi Bảo Hoa, lễ hòa thượng Thánh Tánh và ở lại đây qua năm mới.

Trong hai năm ấy, tôi một mình thân hành vạn lý, trừ những lúc vượt biển phải đi thuyền thì còn lại đều đi bộ, vượt núi băng sông, trèo đèo lội suối, sương gió tuyết mưa, băng qua núi cao cát trắng, đảo lớn đảo nhỏ, cảnh vật biến đổi từng ngày. Lại thấy tâm như trăng cô độc trên trời, thể lực thêm mạnh mẽ, bước chân thêm nhẹ nhàng, không cảm thấy cái khổ lữ hành, mà ngược lại chỉ nghĩ đến tội lỗi phóng dật của mình ngày xưa. Cổ nhân giảng rằng: Đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường, quả thực là như vậy!

Một chén nước rơi, trong mê bừng ngộ

Năm Quang Tự thứ 21 (năm Ất Mùi 1895), 56 tuổi

Trụ trì chùa Cao Mân ở Dương Châu là hòa thượng Nguyệt Lãng lên núi Cửu Hoa, nói rằng: năm nay có vị thí chủ họ Chu đến Cao Mân làm Pháp sự, và hộ trì chư tăng nhập thiền thất trong mười hai tuần, đến nay lão hòa thượng Xích Sơn đã về chùa, vậy kính mời chư vị tới tham dự và hộ trì.

Kỳ thiền thất sắp đến, mọi người liền thúc giục tôi xuống núi trước. Khi đến bến Địch Cảng ở Đại Thông, tôi đi bộ men theo ven sông, gặp thế nước dâng lên, tôi muốn qua sông nhưng người lái đò đòi trả sáu đồng tiền. Thấy tôi không mang theo đồng xu nào, người lái đò liền khua mái chèo bỏ đi. Tôi lại tiếp tục men theo sông, chẳng may trượt chân ngã xuống nước, chìm nổi suốt một ngày đêm, cuối cùng trôi dạt đến gần ghềnh đá Thải Thạch. Ngư dân kéo lưới vớt được tôi, họ bèn gọi hòa thượng chùa Bảo Tích đến nhận. Vị hòa thượng ấy từng sống cùng tôi ở chùa Xích Sơn, nay thấy tôi mắc trong lưới thì kinh ngạc nói: “Đây chẳng phải ngài Đức Thanh sao?”

Sau đó họ đưa tôi đến chùa cứu sống lại. Đó là ngày 28 tháng 6.

Lúc ấy, miệng, mũi, và cả chỗ đại tiểu tiện của tôi đều chảy máu. Tôi ở lại đó vài ngày rồi vội lên đường đến chùa Cao Mân. Vị tăng Tri sự thấy tôi tiều tụy nên hỏi: “Ngài có bệnh gì không?”

Tôi đáp: “Không”.

Tôi lại vào yết kiến hòa thượng Nguyệt Lãng. Ngài hỏi han chuyện trên núi xong liền mời tôi làm chức sự thay ngài. Tôi lễ phép từ chối, không dám kể ra chuyện bị ngã xuống sông, chỉ cầu được tham gia thiền thất trong thiền đường. Gia phong chùa Cao Mân rất nghiêm ngặt, nếu được mời làm chức sự mà cự tuyệt không nhận thì phạm tội khinh mạn tăng chúng của chùa. Tôi phạm luật nên phải chịu đòn, chấp nhận bị đánh mà không dám nói chi. Sau trận đòn bệnh tình lại càng nặng thêm, máu cứ chảy ra không ngừng, chỉ còn cách chờ chết.

Trong thiền đường, tôi ngày đêm tinh tấn, nhất niệm lắng trong, không biết thân là vật gì cả. Lại qua hơn hai mươi ngày, bệnh tật đều hết. Hòa thượng Đức Ngạn trụ trì chùa Bảo Tích đem y phục đến cúng dường, thấy mặt tôi sáng sủa thì rất vui mừng. Ngài ấy bèn kể lại việc tôi bị ngã xuống sông cho đại chúng nghe, ai ai cũng khâm phục tán thán. Vị tăng trong thiền đường không còn bảo tôi phải luân phiên trực nữa, nhờ thế tôi được thuận tiện tu hành. Từ đó muôn niệm đều dừng, công phu ngày đêm như một, hành động mau lẹ như gió.

Một buổi tối nọ, khi cây hương vừa thắp lên, tôi mở mắt ra thì thấy mọi vật hiện rõ như ban ngày, trong ngoài đều rõ ràng. Xuyên qua bức tường đá tôi thấy thầy Hương đăng (vị tăng coi việc đèn nhang) đang tiểu tiện, lại thấy thầy Tri khách (vị tăng tiếp đón khách) đang trong nhà vệ sinh, xa hơn nữa thấy một chiếc thuyền đang chạy trên sông, ngay cả màu sắc và hình dạng của hàng cây hai bên bờ cũng có thể thấy rõ. Lúc ấy đã là canh ba. Hôm sau, tôi hỏi thầy Hương đăng và thầy Tri khách thì quả đúng sự việc hệt như tôi đã thấy đêm qua. Tôi biết đây là cảnh giới của thiền nên không cho là kỳ dị.

Đến tháng 12, ngày thứ ba của tuần thiền thứ tám, lúc châm sáu cây hương khai tĩnh, thầy Hộ thất rót nước làm bắn vào tay tôi, tách trà liền rơi xuống đất. Vừa nghe tiếng chén vỡ, nghi căn liền bặt dứt, tâm chợt bừng ngộ như vừa tỉnh giấc mơ. Tôi nhớ lại vài mươi năm trước, trong túp lều tranh bên sông Hoàng Hà, tôi được một người thế tục hỏi mà không biết nước là gì. Nếu lúc đó đạp đổ nồi bếp, thử hỏi xem Văn Cát còn nói gì nữa không?

Hôm nay, nếu không ngã sông rồi mang bệnh nặng, không gặp cảnh nghịch cảnh thuận, không nghe sự giáo hóa của tri thức, chắc đã uổng phí một đời. Nhưng nhờ đó mới có ngày hôm nay. Vì thế tôi liền viết câu kệ:

Bôi tử phác lạc địa
Hưởng thanh minh lịch lịch
Hư không phấn toái dã
Cuồng tâm đương hạ tức.

Dịch thơ:

Ly trà rớt xuống nền
Tiếng vỡ bỗng vang lên
Hư không tan nát vụn
Cuồng tâm vụt hết liền

Lại có kệ như sau :

Đãng trước thủ, đả toái bôi
Gia phá nhân vong ngữ nan khai
Xuân đáo hoa hương xứ xứ tú
Sơn hà đại địa thị Như Lai.

Dịch thơ:

Bóng bỏng tay, rơi vỡ chén trà
Nhà tan, người mất, nói không ra
Xuân đến nơi nơi hoa thơm thắm
Sông núi trái đất đều Như Lai.

Quang Tự năm thứ 23 (năm Đinh Dậu 1897), 58 tuổi.

Từ chùa Kim Sơn, tôi đến núi Lang Sơn, lễ bái Bồ Tát Đại Thế Chí. Xong việc tôi liền trở lại chùa, được hòa thượng Đạo Minh mời đến Dương Châu làm trợ lý cho chùa Trọng Ninh. Tháng tư, pháp sư Thông Trí giảng Kinh Lăng Nghiêm ở Tiêu Sơn, thính chúng lên tới ngàn người. Ngài bảo tôi phụ giảng. Giảng kinh xong, tôi từ biệt đại chúng xuống núi.

Tôi sinh ra đã không còn mẹ, chưa từng thấy dung mạo bà. Lúc còn ở nhà tôi từng thấy hình thờ, mỗi lần nhớ đến mẹ tâm can đều đau nhói. Xưa kia tôi từng phát nguyện sẽ đến chùa A Dục Vương lễ xá lợi của Phật rồi đốt ngón tay cúng Phật Đà, cầu siêu độ cho mẹ hiền. Thế nên tôi đi Ninh Ba, bấy giờ có pháp sư Huyễn Nhân cùng hòa thượng Kỳ Thiền (thiền sư tám ngón, hành hạnh đầu đà) đang trông coi chùa Thiên Đồng. Hòa thượng Hải Ngạn lúc ấy đang tu chỉnh “Dục Vương Sơn Chí” bèn nhờ tôi phụ giúp, nhưng tôi vì tâm nguyện mới đến đây, nên đành lễ phép từ chối.

Tôi lễ xá lợi, mỗi ngày lễ từ sáng sớm canh ba đến khi chiều tối mịt. Trừ những lúc ở ngoài điện đường, tôi không dùng bồ đoàn (đệm ngồi) hay tọa cụ, mỗi ngày đều lễ ba ngàn lạy.

Một buổi tối nọ, đang lúc ngồi thiền nhập định, tựa như mộng mà không phải mộng, tôi thấy trên không có một con rồng vàng bay vào hồ Thiên Trì trước điện xá lợi, thân dài cả mấy chục thước, tỏa ra ánh kim quang rực rỡ. Tôi leo lên lưng rồng bay lên không trung, đến một nơi sơn thủy tú lệ, hoa cỏ xanh tươi, lầu các cung điện trang nghiêm kỳ diệu. Thấy mẫu thân đang đứng trên lầu các xem cảnh, tôi liền gọi: “Mẹ ơi! Thỉnh mẹ lên lưng rồng đến cõi Tây Phương.”

Rồng lập tức hạ xuống, tôi cũng liền tỉnh giấc, cảm thấy thân tâm thanh tịnh trong sáng, cảnh giới rõ ràng. Tôi bình sinh mơ thấy mẹ cũng chỉ có một lần này thôi…

(Theo lời kể của hòa thượng Hư Vân, lược trích từ “Hư Vân hòa thượng niên phổ”)
Minh Hạnh biên dịch



BÀI CHỌN LỌC

Cao tăng đi ba bước lạy một lạy, được thấy Bồ Tát hiện thân (3/3)