Để chuẩn bị đánh Đài Loan Trung Quốc liệu có học được gì từ cuộc đổ bộ Normandy 80 năm trước?

Giúp NTDVN sửa lỗi

80 năm trước, vào ngày 6/6/1944, lực lượng Đồng minh do quân đội Mỹ chỉ huy đã vượt eo biển Anh và đổ bộ lên bãi biển Normandy, Pháp, chính thức mở cuộc phản công lớn chống lại Đức Quốc xã. Quân Đồng minh chuẩn bị 1 triệu quân, ngày hôm đó, 156.000 lính đã đổ bộ thành công ở cả 5 bãi đáp. Để chuẩn bị đánh Đài Loan, Trung Quốc liệu có học được gì từ cuộc đổ bộ Normandy như 80 năm trước?

Lực lượng tấn công và phòng thủ trong ngày đầu tiên

Vào ngày đổ bộ Normandy, lực lượng Đồng minh triển khai 156.000 lính bộ binh để thực hiện kế hoạch chiếm bãi biển, và khoảng 196.000 người hỗ trợ.

Lực lượng phòng thủ của Đức Quốc xã ở Normandy có khoảng 50.000 người. Tỷ lệ sức mạnh tấn công và phòng thủ trực tiếp giữa hai bên là 3:1, và quân Đồng minh có lợi thế tuyệt đối với tư cách là bên tấn công, đổ bộ vào 5 địa điểm, với cái giá phải trả là hơn 10.000 người thương vong ngày hôm đó.

Quân Đồng minh đã so sánh 4 địa điểm có thể đổ bộ. Calais ở Pháp, gần Anh nhất, nhưng địa điểm này được Đức Quốc xã phòng thủ chặt chẽ nhất; hơn nữa, sau khi quân Đồng minh đổ bộ, họ sẽ phải đối mặt với nhiều con sông trong khu vực, khiến việc tiến nhanh vào đất liền gặp khó khăn. Hai địa điểm còn lại có địa hình tương đối hẹp nên quân Đồng minh dễ bị quân Đức phong tỏa và chặn đứng.

Normandy tuy khá xa xôi, nhưng lại có những bãi biển rộng lớn để đổ bộ. Sau khi xâm chiếm được Normandy, lực lượng Đồng minh có thể tiến sâu vào nội địa trên một chiến tuyến rộng lớn. Vì vậy, Normandy đã được chọn là điểm đột phá chính cho cuộc tổng phản công lớn của Đồng minh. Tuy nhiên, các bãi biển ở Normandy lại thiếu cơ sở hạ tầng cảng biển, nên việc đổ bộ với lực lượng lớn, kèm theo các trang bị nặng và các đơn vị tiếp viện cần nhiều thời gian. Chính vì vậy, lực lượng Đồng minh đã phải cải tạo và bổ sung nhiều xe tăng lội nước để hỗ trợ công tác đổ bộ.

Lực lượng mặt đất của quân Đồng minh được tập hợp tại những nơi như cảng Plymouth, Anh, với tổng số 39 sư đoàn được, trong đó có 22 sư đoàn từ Hoa Kỳ, 12 sư đoàn từ Vương quốc Anh, 3 sư đoàn từ Canada, và 1 sư đoàn từ Ba Lan và Pháp, với tổng quân số hơn 1 triệu người.

Trung Quốc đã lên kế hoạch tấn công Đài Loan, nhưng rất khó để vận chuyển 150.000 người đến đảo Đài Loan trong ngày đầu tiên. Đài Loan có 247.000 quân nhân tại ngũ và khoảng 2,31 triệu quân nhân dự bị.

Quân đội Trung Quốc có 975.000 người đang tại ngũ. Ngay cả khi triển khai một nửa là 500.000 binh sĩ, họ vẫn không thể đạt được lợi thế 3:1. Nếu triển khai nhiều hơn, việc phòng thủ ở từng chiến khu của Trung Quốc sẽ bị bỏ trống. Đài Loan không có bãi biển rộng như Normandy để đổ bộ, các tàu đổ bộ hiện có của Trung Quốc có thể vận chuyển khoảng 20.000 người một lúc; bộ binh hạng nhẹ chỉ có thể vận chuyển trên các thuyền nhỏ, nhưng hầu như không có bãi đổ bộ phù hợp, gây khó khăn cho việc có được sự hỗ trợ hậu cần. Những người lính này chỉ đóng vai trò thăm dò, tương đương với việc tự sát.

Tháng 6/1944, bản đồ tình hình chiến lược của cuộc đổ bộ của quân Đồng minh từ Normandy, Pháp. (MPI/Getty Images)

Một hạm đội khổng lồ gồm 1.213 tàu chiến

Trong ngày đổ bộ Normandy, quân Đồng minh điều động tổng cộng 6.939 tàu, trong đó có 1.213 tàu chiến, 4.126 tàu đổ bộ các loại, 736 tàu phụ trợ và 864 tàu thương mại, trong đó lực lượng chính có khả năng tấn công trực tiếp vào mục tiêu trên đất liền là 6 tàu chiến hạng khu trục, 22 tàu tuần dương và 65 tàu khu trục.

Thiết giáp hạm lớn nhất của Mỹ và Anh tham chiến là 38.000 tấn, được trang bị 9 pháo cỡ nòng 406 mm; thiết giáp hạm nhỏ nhất là 2,6 tấn, được trang bị 12 pháo hạm cỡ nòng 305 mm. Trong số 5 tàu tuần dương hạng nặng, 3 chiếc của Mỹ được trang bị 9 pháo hạm cỡ nòng 203 mm, và 2 chiếc của Anh được trang bị 7 pháo hạm cỡ nòng 191 mm; 17 tàu tuần dương còn lại được trang bị 8 khẩu pháo hạm cỡ nòng 152 mm hoặc 133 mm. Các tàu khu trục của Mỹ thường được trang bị 4 đến 6 pháo hạm cỡ nòng 130 mm hoặc 127 mm, và những pháo hạm này đóng một vai trò quan trọng.

Nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan, họ có thể huy động hàng nghìn tàu dân sự, nhưng số lượng tàu chiến sẽ ít hơn nhiều so với quy mô của lực lượng Đồng minh trong cuộc đổ bộ Normandy. Hải quân Trung Quốc hiện có 8 tàu khu trục lớp 055, và 25 tàu khu trục lớp 052D, chỉ được trang bị một pháo hạm cỡ nòng 130 mm, và có thể mang theo tên lửa tấn công mặt đất hạn chế. Hai tàu khu trục 051B/C và 10 tàu khu trục 052B/C được sản xuất thử nghiệm, chỉ có một khẩu pháo hạm cỡ nòng 100 mm và không thể phóng tên lửa tấn công mặt đất. Tất cả các tàu khu trục này không thể tham gia hoạt động ở eo biển Đài Loan, cũng không dám đi vào tầm bắn của tên lửa chống hạm Đài Loan, và pháo hạm cũng không thể tấn công mặt đất.

Trung Quốc cũng có 40 tàu khu trục lớp 054A, nhưng chúng chỉ được trang bị một pháo hạm cỡ nòng 76 mm, và không thể mang tên lửa tấn công mặt đất.

Tổng số tàu dân sự khác nhau mà Trung Quốc có thể trưng dụng có thể gần bằng quy mô của cuộc đổ bộ Normandy, nhưng khoảng cách di chuyển ít nhất sẽ tăng gấp đôi; có quá ít tàu chiến có thể hỗ trợ hỏa lực, và pháo hạm về cơ bản là vô dụng. Một số tàu khu trục lớp 055 và lớp 052D sẽ mang theo tên lửa tấn công mặt đất, dự kiến ​​sẽ không được sử dụng để tấn công các công sự trên bãi biển. Thay vào đó, chúng sẽ vòng qua phía đông Đài Loan và cố gắng tấn công các căn cứ ở Hoa Liên và các căn cứ khác.

Vào ngày 1/2/1939, thiết giáp hạm HMS Rodney của Anh đang hành trình ở Địa Trung Hải. Con tàu được trang bị 9 khẩu pháo cỡ nòng 16 inch (406 mm). Những khẩu pháo hải quân này đóng vai trò quan trọng trong vụ đánh chìm thiết giáp hạm Bismarck của Đức năm 1941 và cuộc đổ bộ Normandy ngày 6/6/1944. (FPG/Ảnh lưu trữ/Getty Images)

2.200 máy bay tiến hành không kích ở Normandy

Trước khi cuộc đổ bộ Normandy bắt đầu, hơn 2.200 máy bay chiến đấu của Mỹ, Anh và Canada đã ném bom các khu vực công sự ven biển Normandy và các mục tiêu trong đất liền.

Đức có 570 máy bay đồn trú ở các khu vực xung quanh nhưng không nhận được cảnh báo sớm, không có trận không chiến lớn nào xảy ra, và hạm đội Đồng minh không gặp phải các cuộc không kích của Đức. Tàu quét mìn được điều động trước đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dọn đường trước bình minh mà không gặp phải kẻ thù. Tình huống như vậy gần như sẽ không bao giờ xảy ra trong một cuộc chiến có thể xảy ra ở eo biển Đài Loan.

Lực lượng Không quân của Trung Quốc thiếu khả năng tấn công trên không quy mô lớn, 100 máy bay ném bom H-6 của họ không dám vượt qua eo biển Đài Loan. Các máy bay chiến đấu khác cũng sợ tên lửa phòng không của Đài Loan.

Các máy bay chiến đấu chủ lực của Trung Quốc như J-16, J-20 và một số máy bay Su-30, J-11 có thể sẽ tham gia vào các trận không chiến ở phía Bắc eo biển Đài Loan để bảo vệ hạm đội đổ bộ. Trung Quốc cũng có thể cố gành kiểm soát không phận khu vực eo biển Bashi, triển khai máy bay ném bom H-6 bay vòng quanh phía Nam Đài Loan, đồng thời cũng phải điều động một số máy bay chiến đấu tới khu vực Tây Nam Đài Loan. Về chất lượng và số lượng, không quân Trung Quốc rõ ràng lép vế so với liên quân do Mỹ dẫn đầu.

Số lượng máy bay mà Trung Quốc có thể tham gia các cuộc không kích không thể đạt được 2.200 chiếc. Trung Quốc chủ yếu dựa vào các cuộc tấn công bằng tên lửa của Lực lượng Tên lửa từ các bệ phóng tên lửa tầm xa, đồng thời cũng sử dụng máy bay không người lái để bổ sung.

Quân đội Nga đã phóng hơn 8.000 tên lửa nhắm vào Ukraine, nhưng hiệu quả có hạn. Được biết, tỷ lệ trúng mục tiêu của tên lửa do Triều Tiên cung cấp cho Nga chỉ khoảng 20%, vì vậy ước tính tỷ lệ trúng mục tiêu của tên lửa Trung Quốc sẽ nằm giữa tỷ lệ của tên lửa Triều Tiên và Nga. Quân đội Nga cơ bản không sử dụng tên lửa để tấn công các tuyến đầu, do đó tên lửa Trung Quốc sử dụng để tấn công các vị trí đầu trận địa ở Đài Loan cũng sẽ có hiệu quả hạn chế.

Chính quyền Trung Quốc thổi phồng rằng, các bệ phóng tên lửa tầm xa có tầm bắn lên tới 400 km. Tuy nhiên, để đạt được tầm bắn xa hơn, họ phải giảm trọng lượng đầu đạn và tăng nhiên liệu, khiến trọng lượng đầu đạn chỉ khoảng 150 kg, không đủ sức để phá hủy các công sự kiên cố, điều này không thể so sánh được với các loại pháo hạm cỡ nòng 300 mm đến 400 mm được sử dụng trong cuộc đổ bộ Normandy.

Trung Quốc tuyên bố tên lửa dẫn đường của họ có độ chính xác cao hơn tên lửa đạn đạo, nhưng nếu đúng như vậy thì chi phí sản xuất cũng tương đương với chi phí của tên lửa đạn đạo, vì vậy sẽ tốt hơn nếu chế tạo một tên lửa đạn đạo.

Vào ngày 6/6/944, máy bay chiến đấu P-38 Lightning của quân Đồng minh bay qua vùng nông thôn nước Anh trên đường tới một cuộc không kích vào Normandy. (Ảnh: FPG/Getty Images)

Chi phí đổ bộ trên bãi biển Omaha

Trong số 5 địa điểm diễn ra cuộc đổ bộ Normandy, bãi biển Omaha chứng kiến ​​giao tranh ác liệt nhất và thiệt hại nặng nề nhất. Do bị mây che phủ, các cuộc không kích của quân Đồng minh không thể phá hủy hiệu quả các công sự kiên cố trên Bãi biển Omaha, nơi có lực lượng phòng thủ mạnh nhất. Sư đoàn bộ binh số 1 và Sư đoàn bộ binh 29 của Mỹ không phải đối đầu với một trung đoàn Đức như mô tả trong tin tình báo, mà là Sư đoàn bộ binh 352 của Đức.

Trong quá trình đổ bộ, dòng hải lưu mạnh khiến nhiều tàu đổ bộ đi chệch lộ trình hoặc bị trì hoãn. Đợt không kích thứ 2 của máy bay ném bom Mỹ lo ngại sẽ ném bom nhầm người của mình, nên phải từ bỏ cuộc tấn công. Sau khi rời tàu đổ bộ, các binh sĩ phải lội qua nửa mét hoặc một mét nước rồi đi bộ đến bãi biển. Đợt tấn công đầu tiên của quân đội Mỹ bị thương vong nặng nề, 27 trong số 32 xe tăng lội nước bị chìm trong nước, buộc quân đội Mỹ phải tạm dừng tấn công bằng xe tăng; tổng số thương vong ngày hôm đó là khoảng 2.000 người.

Sau đó, với sự yểm trợ hỏa lực tầm gần của các tàu khu trục Mỹ, hoạt động đổ bộ được tiếp tục. Cuối buổi sáng hôm đó, chỉ có khoảng 600 lính Mỹ bảo vệ được vùng đất cao hơn. Vào buổi trưa, pháo hạm của Mỹ gây thương vong nặng nề cho quân Đức, đạn dược của quân Đức bắt đầu cạn kiệt. Mặc dù quân đội Mỹ đã thành công trong việc chiếm bãi biển ở bãi biển Omaha vào ngày 6/6, nhưng phải đến ngày 9/6 mới hoàn thành mục tiêu đổ bộ như dự kiến.

Ngày 6/6/1944, binh sĩ quân Đồng minh rời tàu đổ bộ của họ ở bờ biển Normandy, Pháp và lội xuống nước để tiến hành chiến dịch đổ bộ. (Cục Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ/AFP qua Getty Images)

Nếu xung đột eo biển Đài Loan diễn ra, cuộc đổ bộ của Trung Quốc vào Đài Loan hiện thiếu sự yểm trợ hỏa lực trên không và trên biển hiệu quả, khiến việc trấn áp hỏa lực của quân phòng thủ Đài Loan sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Quân đội Trung Quốc có thể lắp pháo 105mm lên xe đổ bộ ZTD-05 nhằm bù đắp cho việc thiếu hỏa lực. Tuy nhiên, lớp giáp bảo vệ xe đổ bộ này yếu, và không thể chống chọi được các cuộc tấn công từ tên lửa Javelin, tên lửa chống tăng BGM-71 TOW, và pháo xe tăng.

Quân đội Đức đã triển khai 170 khẩu pháo khắp bãi biển Normandy, hầu hết đều có cỡ nòng 88 mm hoặc 75 mm, không thể so sánh với hỏa lực hiện đại. Quân đội Đài Loan có hơn 600 pháo cỡ nòng 155 mm, 165 pháo cỡ nòng 203 mm và 30 pháo cỡ nòng 240 mm, cũng như nhiều tên lửa Thunder-2000 tự sản xuất, và đã mua thêm tên lửa HIMARS của Mỹ.

Đài Loan có hơn 1.000 xe tăng các loại, có thể được triển khai trên bờ để tấn công trực tiếp các tàu và phương tiện chiến đấu đổ bộ đang cố gắng đổ bộ. Ngoài ra còn có 61 máy bay trực thăng tấn công loại Cobra, và 29 máy bay trực thăng loại Apache, tất cả đều là vũ khí phòng thủ, không có sẵn trong cuộc đổ bộ Normandy. Máy bay chiến đấu và máy bay không người lái F-16 của Đài Loan có thể tấn công hạm đội của Trung Quốc, và tên lửa đạn đạo Đài Loan có thể thực hiện các cuộc tấn công từ đầu nguồn.

Bộ binh hạng nhẹ của Trung Quốc có thể đổ bộ từ nhiều nơi trên những chiếc thuyền nhỏ, nhưng họ phải đối mặt với hơn 2.700 xe bọc thép các loại của Đài Loan, và có tới 9.000 chiếc Humvee. Về cơ bản, Trung Quốc đang lấy thịt người để làm áo giáp.

Quân Đồng minh mất 45 ngày để chiếm được hoàn toàn Normandy

Cuộc đổ bộ Normandy là cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử, diễn ra thành công ngay trong ngày đầu tiên, tổng số thương vong ít hơn dự kiến; tuy nhiên, toàn bộ kế hoạch tác chiến đã không được thực hiện kịp thời.

Theo kế hoạch của các lực lượng Đồng minh, vào ngày đầu tiên đổ bộ, họ cần nhanh chóng chiếm được các bãi đổ bộ, và sau đó nhanh chóng chiếm được các thị trấn lân cận như Carentan, Saint-Lô, Caen và Bayeux. Mặc dù các đơn vị đã thành công trong việc chiếm giữ các bãi đổ bộ, nhưng họ không thể tiến sâu nhanh chóng như kế hoạch, và vẫn cách các mục tiêu tấn công trên tuyến đầu từ 10 đến 16 km.

Sau 6 ngày đổ bộ, đến ngày 12/6, các vị trí đổ bộ mới liên kết được với nhau, tạo thành một chiến tuyến dài khoảng 97 km và sâu 24 km. Tuy nhiên, các lực lượng Đồng minh vẫn chưa chiếm được thị trấn Caen, một thị trấn quan trọng gần Normandy.

Đến cuối tháng 6, các lực lượng Đồng minh đã có 875.000 quân đổ bộ vào Normandy, nhưng phải đến ngày 21/7 mới hoàn toàn chiếm được thị trấn Caen. Điều này cho thấy việc Trung Quốc tuyên bố có thể nhanh chóng chiếm được Đài Loan là rất khó xảy ra.

Việc các lực lượng Đồng minh đổ bộ vào Normandy được coi là bất ngờ. Tướng lĩnh phòng thủ tuyến đầu của Đức, Rommel, đã lập kế hoạch bảo vệ Normandy mới, nhưng một số khu vực chỉ mới hoàn thành 18% công sự phòng thủ. Chiều dài bờ biển dài đã khiến quân Đức không thể phân bố lực lượng và nguồn lực hiệu quả.

Thống chế Rommel đã triển khai các đơn vị tăng thiết giáp ở phía sau tuyến phòng thủ Normandy, nhưng không kịp hỗ trợ đúng lúc. Kế hoạch đổ bộ Normandy dự kiến bắt đầu vào ngày 5/6, nhưng bão lớn đã buộc phải hoãn lại một ngày. Rommel đã đoán rằng Đồng minh sẽ không tiến hành đổ bộ, nên đã trở về Berlin để mừng sinh nhật vợ. Cơ quan tình báo Đức đã phát hiện ra dấu hiệu về hành động của Đồng minh, nhưng do trước đó nhiều lần báo động sai, lần này cũng bị lãnh đạo bỏ qua. Khi cuộc đổ bộ Normandy xảy ra, Hitler đang ngủ và không ai dám đánh thức, lệnh điều động quân cũng chậm trễ. Điều này xảy ra chỉ có thể là ý Trời.

Ngoài việc đổ bộ, các lực lượng Đồng minh còn tiến hành một chiến dịch không vận quy mô lớn trước đó, mặc dù gặp nhiều thương vong, nhưng cũng đạt được một số mục tiêu chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, Trung Quốc không có đủ số lượng máy bay vận tải để có thể mô phỏng được hành động tương tự, và cũng không thể tránh khỏi những nguy cơ từ hệ thống tên lửa phòng không của Đài Loan.

Do điều kiện thời tiết và thủy triều, các lực lượng Đồng minh chỉ có thể chọn tháng 6 để tiến hành chiến dịch đổ bộ Normandy. Nếu Trung Quốc muốn tấn công Đài Loan, họ có thể chọn tháng 4 hoặc tháng 10. Tuy nhiên, việc chuẩn bị của quân đội Trung Quốc không thể tránh khỏi bị phát hiện, và họ cũng khó có thể né tránh được Kim Môn và Mã Tổ, nên khó có thể đạt được yếu tố bất ngờ trong cuộc tấn công.

Cuộc đổ bộ Normandy 80 năm trước vẫn có giá trị tham khảo đối với các tình huống có thể xảy ra ở eo biển Đài Loan ngày nay. Tuy nhiên, 80 năm sau, mặc dù Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ quân sự, nhưng vẫn thiếu nhiều điều kiện cần thiết cho một cuộc đổ bộ, trong khi lực lượng phòng thủ đã mạnh hơn rất nhiều. Điều mà Trung Quốc lo sợ nhất vẫn là Quân đội Mỹ. Khi đối mặt với lực lượng giàu kinh nghiệm đổ bộ nhất của Mỹ, việc Trung Quốc cố gắng phô trương sức mạnh có thể nói là đã chọn nhầm đối thủ.

Theo The Epoch Times
Lý Ngọc biên dịch

Văn hoá Lịch sử


BÀI CHỌN LỌC

Để chuẩn bị đánh Đài Loan Trung Quốc liệu có học được gì từ cuộc đổ bộ Normandy 80 năm trước?