Cô gái rơi từ máy bay ở độ cao 3.000m vẫn sống sót kỳ diệu - ‘Phép lạ’ là có thật!

Bình luận Hà Phương • 17:48, 17/12/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Một cô gái 17 tuổi rơi ở độ cao 3.000 mét từ một chiếc máy bay bị sét đánh xuống rừng Amazon. Thật kinh ngạc khi cô là người duy nhất sống sót sau tai nạn thảm khốc - tất cả 85 hành khách khác và phi hành đoàn đều thiệt mạng. Làm thế nào cô đã thoát nạn và còn có thể sinh tồn trong rừng rậm suốt 11 ngày để trở về thế giới văn minh?

Một trường hợp khác là hai em học sinh trôi dạt trên biển tuyệt vọng cầu cứu Chúa và một con tàu mang tên “The Amen” đã xuất hiện. 

Liệu những câu chuyện có thực này có gợi cho chúng ta niềm tin rằng, thiện niệm và Đức tin có thể cứu sống một người?

Những câu chuyện trên thật thần kỳ nhưng có lẽ không phải quá xa lạ với những ai có đức tin. Mặc dù con người cho rằng mình có thể làm chủ mọi thứ, nhưng luôn có những tai nạn bất ngờ ập đến, đôi khi đẩy chúng ta vào hoàn cảnh tuyệt vọng nhất của sinh mệnh, khi ấy, nhiều người sẽ nhận ra rằng chỉ có đức tin và thiện niệm mới có thể cứu chúng ta thoát khỏi hiểm cảnh trước mắt.

Qua 3 câu chuyện dưới đây hy vọng sẽ mang đến cho các bạn một góc nhìn khác về những “phép lạ” trong cuộc sống, để chúng ta thấy một điều kỳ diệu rằng: Thần tích luôn hiện hữu trong cuộc sống con người.

1. Cô gái duy nhất sống sót sau tai nạn máy bay rơi

Năm 2021 là năm kỷ niệm vụ tai nạn thảm khốc của chiếc máy bay mang số hiệu LANSA 508 xảy ra cách đây 50 năm, cướp đi mạng sống của 85 con người. Bà Juliane Diller khi ấy mới 17 tuổi, là người duy nhất sống sót một cách kỳ diệu sau khi rơi từ máy bay xuống rừng Amazon ở độ cao 3.000 mét.

Vào đêm Giáng sinh năm 1971 - Juliane và mẹ đã đáp chuyến bay ở Lima để đến Pucallpa. Thế nhưng, bi kịch không ai ngờ tới đã xảy ra, chỉ 25 phút sau khi cất cánh, chiếc máy bay chở 86 hành khách đã bay vào vùng giông bão và bắt đầu rung lắc. Một tia sét đánh trúng cánh phải của chiếc máy bay và xé toạc nó ra. 

Hành trình của chuyến bay xấu số mà Juliane là 1 trong 86 hành khách trên đó (Ảnh: Wikipedia)

Điều tiếp theo mà cô gái 17 tuổi nhận thấy là mình đang rơi khỏi máy bay. Cô vẫn ngồi trên chiếc ghế dài 3 chỗ và cả người được thắt chặt bằng một sợi dây an toàn. Cô xoay tròn cùng chiếc ghế trên không và rơi tự do xuống cánh rừng mà sau này cô mô tả - trông như một cây cải xanh khổng lồ khi nhìn từ trên cao xuống. 

Khi ấy, Juliane không nhận ra tất cả vết thương của mình nhưng quả thực cô đã sống sót một cách thần kỳ sau cú ngã với một xương quai bị gãy; chấn thương đứt dây chằng chéo một bên đầu gối; một bên mắt sưng húp nhắm nghiền; mao mạch trong mắt bị bung; chấn thương đốt sống cổ; và một số vết thương sâu trên tay và chân.

19 giờ tiếp theo, Juliane mất dần ý thức và rơi vào hôn mê, nhưng không rõ bằng cách nào cô tháo được dây an toàn và chui xuống dưới ghế. 

Hành trình từ cõi chết trở về 

Sau khi tỉnh dậy, Juliane bàng hoàng khi nhận ra tình hình của mình. Cô nằm trên mặt đất, chỉ mặc một chiếc váy ngắn rách tả tơi, một chiếc dép rơi mất, kinh hoàng hơn là cô đã bị văng mất cặp kính cận và không thể nhìn rõ bất cứ thứ gì. 

Juliane nhớ lại: “Tôi nhận ra âm thanh của động vật hoang dã từ Panguana và nhận ra rằng, tôi đang ở trong cùng một khu rừng và đã sống sót sau vụ tai nạn”.

Juliane mò mẫm tìm mẹ nhưng không thấy. Cô tìm thấy một túi kẹo, thứ duy nhất giúp cô duy trì sự sống suốt 11 ngày lạc trong rừng. Juliane bắt đầu hành trình vượt rừng để trở về nhà. 

Cô cố gắng đi men theo dòng suối về phía hạ lưu, vì khi có nước sẽ có người dân ở xung quanh đó. 

Cô xách một chiếc dép còn lại trên tay và mò mẫm tìm đường. Để tránh rắn rết và nhện độc ẩn nấp dưới lá khô, cô sẽ ném chiếc dép về phía trước và chờ xem có động tĩnh gì không. Nếu không có, cô sẽ bước tiếp. Vì mắt không nhìn rõ đường, Juliane cố gắng đi dưới nước nhiều nhất có thể để tránh rắn độc.

Trong quá trình di chuyển, một số vết thương của Juliane bị nhiễm trùng và vết thương lớn trên cánh tay phải của cô bắt đầu xuất hiện giòi.

Các vết thương của cô bắt đầu xuất hiện giòi  (Ảnh: chụp từ video)

Đến ngày thứ 10 đi bộ trong rừng, Juliane tình cờ gặp một chiếc thuyền. Bên cạnh đó là một con đường, cô đã bò lên đường vì quá yếu để có thể di chuyển như bình thường. 

Cuối con đường là một túp lều nhưng không có người. Juliane tìm thấy một động cơ và một ít nhiên liệu diesel trong cái thùng. Cô gái đã trút nhiên liệu diesel vào vết thương để giết những con giòi. 

Thời điểm đó, Juliane có ý định lên chiếc thuyền và rời đi, nhưng cô không muốn làm điều đó vì nghĩ rằng đó là hành vi ăn trộm, vì thế cô gái đã ngủ lại túp lều.

Cô mệt lả ngả lưng trong túp lều bên đường (Ảnh: chụp từ video)

Sáng hôm sau, 3 người đàn ông vừa ra khỏi rừng thì nhìn thấy Juliane, họ kinh hoàng khi thấy bộ dạng của cô, và nhanh chóng đưa cô tới bệnh viện. Juliane Diller được cứu sống và đoàn tụ với cha mình một ngày sau đó. Đáng tiếc là 85 hành khách và phi hành đoàn không một ai sống sót, trong đó gồm có mẹ cô.

Tin tức về vụ tai nạn thảm khốc nhanh chóng lan ra, mọi người đều không hiểu bằng cách nào mà Juliane có thể tồn tại trong rừng rậm Amazon với đầy thú dữ, báo đốm, rắn, nhện độc, cá đuối độc suốt 11 ngày? Và làm sao mà mắt cô gái không nhìn rõ đường nhưng vẫn tìm đúng hướng đi?

Cô gái 17 tuổi năm đó giờ đây là Tiến sĩ Juliane Diller - Giám đốc của Panguana và là người tổ chức chính của các cuộc thám hiểm quốc tế.

Cô gái 17 tuổi năm đó giờ đây là Tiến sĩ Juliane Diller  (Ảnh: wikipedia)

Bà Juliane nhớ lại: “Trong 11 ngày cô đơn đi bộ trở lại nền văn minh, tôi đã tự hứa với mình một lời hứa. Tôi thề rằng, nếu tôi còn sống, tôi sẽ cống hiến cuộc đời mình cho một sự nghiệp có ý nghĩa phục vụ thiên nhiên và nhân loại”.

Phải chăng chính sự lương thiện và niềm tin mãnh liệt của Juliane Diller đã cứu sống bà năm đó?

2. Cầu Chúa cứu giúp và con tàu mang tên ‘The Amen’ xuất hiện

Câu chuyện tưởng như chỉ có trên phim này thực sự đã xảy ra với hai em học sinh trung học ở Hoa Kỳ. Đó là Tyler Smith và Heather Brown, đều 17 tuổi và đang theo học tại Jacksonville, bang Florida. 

Khi sắp tốt nghiệp, họ đã cùng nhau đi bơi để kỷ niệm ngày Senior Skip Day - một hoạt động phổ biến hàng năm của lớp tốt nghiệp ở Hoa Kỳ.

Cả hai cho biết họ vẫn thường bơi ra biển từ bãi biển Vilano và chưa bao giờ gặp phải dòng chảy mạnh có thể kéo người xuống biển sâu. Không ngờ rằng ngày hôm ấy, một dòng hải lưu đã đẩy Tyler và Heather ra xa bờ biển 3km trong 2 giờ đồng hồ. 

Khi dòng hải lưu ngày càng mạnh, những chiếc phao màu đỏ dùng làm biển báo định hướng và chỉ báo an toàn - ngày càng trở nên xa tầm với, cả hai đã hoàn toàn mất đi hy vọng.

Lúc này, Tyler và Heather bắt đầu cầu xin Chúa phù hộ. Tyler kể lại: “Tôi bắt đầu cầu xin Chúa giúp đỡ, và tôi nói, xin Ngài hãy gửi một thứ gì đó, hoặc ai đó, hoặc thể hiện một phép màu để cứu chúng con, bởi vì con vẫn muốn gặp lại gia đình mình”.

Bỗng khi đó, một chiếc du thuyền màu trắng mang tên “The Amen” xuất hiện một cách thần kỳ, cách họ chưa đầy 200 mét.

Smith bắt đầu cầu Chúa giúp đỡ, và đúng lúc này, tàu Amen từ đâu xuất hiện... (Ảnh minh họa: Vivek PRAKASH / AFP)

Heather cố gắng vẫy một cây gậy mà mình tìm thấy trên biển, đúng lúc này, thuyền trưởng tàu "Amen" là ông Eric Wagner và thủy thủ đoàn đã nhìn thấy "hai chấm nhỏ" ở đằng xa. 

Ông Wagner kể lại: “Trên tất cả âm thanh của gió, sóng và động cơ, chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi nghe thấy những tiếng la hét tuyệt vọng”.

“Cậu bé nói với tôi rằng khi cậu ấy kiệt sức và sắp mất sự hỗ trợ, cậu ấy đã cầu xin Chúa giúp đỡ và sau đó chúng tôi xuất hiện".

Thuyền trưởng của con tàu “The Amen” nói rằng, ông không hề có kế hoạch đi thuyền qua khu vực đó vào ngày hôm ấy, nhưng đã thay đổi kế hoạch.

Thuyền trưởng của tàu Amen, Eric Wagner (trái) và thủy thủ đoàn. (Ảnh: được sự cho phép của Eric Wagner)

"Chúng tôi không có lý do gì để ở đó. Không có con tàu nào khác ở đó. Tôi chắc chắn rằng đây không phải là sự ngẫu nhiên. Bàn tay của Chúa đã đặt chúng tôi ở đó"

Khi làm khách mời trong một chương trình truyền hình, cậu học sinh Tyler vẫn không giấu được niềm vui và lòng biết ơn, cậu nói:

“Chúa sẽ cứu con người. Chúa thực sự tồn tại, không cần lý do nào khác. Kinh nghiệm của chúng tôi đã giống như một lời giải thích”.

Tyler Smith và Heather Brown trong một chương trình truyền hình, sau khi được cứu sống (Ảnh từ facebook)

Quả là thần kỳ đúng không quý vị? Liệu đây có phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên hay có bàn tay của Đấng Tối Cao sắp đặt? Và nếu bạn cho đó là sự tình cờ, thì câu chuyện của cậu bé mắc tự kỷ dưới đây sẽ khiến bạn nghĩ lại.

Cậu bé tự kỷ được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở

Cậu bé tên là AJ (Anthony "AJ" Elfalak), 3 tuổi, bị mắc chứng tự kỷ và không biết nói. Em sống cùng cha mẹ ở khu vực Thung lũng Hunter, New South Wales, Úc, một vùng rất xa xôi hẻo lánh. 

Trưa ngày 3/9/2021, AJ đột nhiên mất tích và cha mẹ em đã nhanh chóng báo cảnh sát. 

Cảnh sát và lực lượng cứu hộ đã mở một chiến dịch tìm kiếm cứu nạn trên quy mô lớn, nhưng mãi đến ngày 6/9 - tức 3 ngày sau, trực thăng của cảnh sát mới tìm thấy AJ đang ngồi trên một con lạch của một dòng suối trong rừng, chỉ cách nhà 470 mét.

Video quay lại cảnh tìm kiếm AJ do cảnh sát cung cấp cho thấy, AJ đang ngồi một mình giữa vũng nước và lấy tay hớt nước uống. Nhưng điều khiến nhiều người chú ý là vệt sáng chói lóa trên tảng đá ngay cạnh AJ. 

Cậu bé tự kỷ bị lạc trong rừng 3 ngày và được Đức Mẹ Đồng Trinh che chở (Ảnh: chụp từ video)

Cô Kelly - mẹ cậu bé tin rằng, đó là Đức Mẹ Đồng Trinh đã ở bên che chở cho con trai cô. Cô nói rằng, gia đình cô có niềm tin tôn giáo và cô luôn tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện. Cô đã liên tục cầu nguyện và tin rằng sẽ sớm tìm được con trai mình.

Quả nhiên, như cô Kelly nói, đội cứu hộ đã tìm được AJ sau 3 ngày mất tích và đưa cậu bé trở về nhà với mẹ an toàn mà không có bất cứ vết thương nào, ngoại trừ một vài vết bầm tím trên chân. 

Sau khi tìm thấy con trai, mẹ cậu bé nói: “Nếu bạn nhìn thấy hình ảnh của AJ trong con lạch, bạn thực sự có thể nhìn thấy hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh đang ở bên cạnh thằng bé”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu con người không có “đức tin”?

Nếu đức tin có thể tạo nên kỳ tích, thì việc con người không có đức tin sẽ dẫn đến hậu quả gì? 

Ông Quách từng là thư ký tại Tòa án Nhân dân Nam Kinh, Trung Quốc. Mỗi khi thi hành án tử hình, ông đều phải nói chuyện riêng với phạm nhân. Ông hỏi họ: “Các anh có sợ xuống địa ngục không?”. 

Kết quả là họ đều nhìn ông bằng ánh mắt hồ nghi, và nói: “Thẩm phán, ông lại nói chuyện duy tâm, lại mê tín rồi sao? Làm gì có địa ngục? Từ nhỏ tôi đã nghe thầy cô và cha mẹ tôi nói rằng không có địa ngục và thiên đường. Tôi cũng chưa từng nhìn thấy Chúa hay ma quỷ. Sớm muộn gì con người cũng chết. Chết thì chết. Sợ gì!”

Sau đó, họ lại bối rối lẩm bẩm: “Nếu thực sự có địa ngục, thì tôi đã không giết người”

Vậy mới nói, nếu những người này từ nhỏ được tiếp thụ đức tin vào thiên đường và địa ngục, thì chắc rằng họ sẽ không dám phạm tội đại ác như thế. 

Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất thời cận đại được cả thế giới công nhận, trong một lần phỏng vấn, ông nói: “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế… 

Có thể ngài sẽ nói: ‘Tôi chưa thấy hoặc chưa từng nghe về Chúa, vậy làm sao tôi có thể tin vào sự tồn tại của Chúa?’ Đúng vậy, ngài có ngũ quan… Nhưng chúng đều bị hạn chế. Ví dụ con người chỉ nghe được âm thanh có bước sóng trong khoảng từ 20 Hz đến 20.000 Hz… “

Khoa học hôm nay không thể chứng minh được sự tồn tại của Thần, là bởi khoa học vẫn còn chưa có phát triển đến trình độ đó, chứ không phải là Thần không tồn tại”.

Từ năm 1901, sau khi thành lập giải Nobel đến nay, trong số 286 nhà khoa học giành được giải Nobel trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, có đến 92% tin vào Thần. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, gần 3 thế kỷ trở lại đây, trong số 300 nhà khoa học kiệt xuất trên khắp thế giới, có đến 242 người xác định rõ bản thân là tin vào Thần. 

Thậm chí 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới, gồm: bậc thầy phát minh Thomas Edison, nhà sáng lập vi trùng học Louis Pasteur, nhà phát minh thuyết bị truyền tin vô tuyến Guglielmo Marconi, Samuel Morse – người phát minh ra tín hiệu Morse, Erwin Schrödinger – người đặt nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, cho đến 2 nhà khoa học nổi tiếng thế giới là Isaac Newton và Albert Einstein mà mọi người đều quen thuộc, toàn bộ đều là những người tin vào Thần.

Hầu hết những nhà khoa học hàng đầu thế giới đều tin vào Thần (Ảnh: Max pixel)

Tín ngưỡng đối với Thần không phải là “mê tín”. Như nhà khoa học Louis Pasteur nói: “Ít hiểu biết khoa học làm ta xa rời Chúa, khi thực sự hiểu nhiều về khoa học làm ta quay về với Chúa”.

Bước chân của khoa học nhân loại còn chưa vượt khỏi hệ Mặt trời nhỏ bé, thì Vũ trụ sâu thăm thẳm kia lại càng nằm ngoài tầm với và là sức tưởng tượng của con người.

Những thứ mắt người không nhìn thấy được không có nghĩa là chúng không tồn tại. Con người không tin có thiên đường và địa ngục, không có đức tin, không sợ trời và không sợ đất, thì việc ác nào cũng dám làm

Chỉ khi có đức tin, con người mới có thể theo lời dạy của Thần mà vun đắp tình yêu thương; vì kính Thần, mới dám bước ra bảo vệ công lý, mới dám nói “Không!” khi đối mặt với sức mạnh tột cùng của cái ác!

Kết

Nhân loại sinh tồn đã trải qua những năm tháng lịch sử dài đằng đẵng, có biết bao nhiêu câu chuyện Thần thoại được lưu truyền qua các thời đại và thế hệ. Con người thường chỉ chấp nhận những điều Thần kỳ, những phép lạ trong Kinh sách, hay trong những câu chuyện cổ xưa về Thần Tiên, nhưng lại không dám thừa nhận Thần tích ngay tại khoảnh khắc mà họ đang sinh sống.

Những câu chuyện hy hữu cận kề sinh tử bên trên như minh chứng sống động Thần Phật luôn tồn tại dù con người có tin hay không, Thần Phật cũng luôn ở bên để che chở cho những người lương thiện và có đức tin mạnh mẽ.

Hà Phương
Theo Ngẫm Radio



BÀI CHỌN LỌC

Cô gái rơi từ máy bay ở độ cao 3.000m vẫn sống sót kỳ diệu - ‘Phép lạ’ là có thật!