Giáo sư Chương Thiên Lượng: Tây Du Ký nhàn đàm

Giúp NTDVN sửa lỗi

Cá nhân tôi cho rằng “Tây Du Ký” là bộ truyện đặc sắc nhất trong những danh tác cổ điển của Trung Hoa.

Trước khi tu luyện Đại Pháp, tôi đặc biệt yêu thích “Tây Du Ký” vì nội dung tác phẩm rất sinh động và đầy kịch tính. Sau khi tu Đại Pháp, đọc lại “Tây Du Ký” tôi lại phát hiện rằng rất nhiều điều trong đó đều là đạo lý tu hành. Trong quá khứ, những pháp lý ấy đều là thiên cơ nên không thể giảng ra quá rõ ràng, đều khiến đệ tử phải dốc lòng đoán giải, từ đó mà khảo nghiệm ngộ tính của mỗi người.

Hồi thứ nhất có tiêu đề: “Gốc thiêng ấp ủ nguồn rộng chảy, tâm tính tu trì đạo lớn sinh”. Tiêu đề của chương hồi đã chỉ ra hai vấn đề: Một là, căn cơ của người tu luyện là yếu tố vô cùng quan trọng, người căn cơ càng tốt thì tu luyện sẽ càng dễ dàng. Hai là, người tu luyện phải dựa vào việc tu trì tâm tính mới có thể có hy vọng đắc Đạo.

Xuyên suốt “Tây Du Ký”, vấn đề tu tâm đã được nhắc đến rất nhiều lần nhưng lại không thể hiện quá minh hiển. Ví dụ, Tôn Ngộ Không xuất gia bái Bồ Đề Tổ Sư làm sư phụ. Bồ Đề Tổ Sư là ai? Là vị đạo nhân ngự ở động Tà Nguyệt Tam Tinh trên núi Linh Đài Phương Thốn. Thời cổ đại, hai chữ “Linh Đài” và “Phương Thốn” đều ám chỉ tâm, người hiện đại chúng ta cũng thường nói “phương thốn dĩ loạn” để chỉ lòng người rối loạn. Còn “Tà Nguyệt Tam Tinh” lại là cách chơi chữ, nếu dịch ra nghĩa đen thì là trăng khuyết và ba ngôi sao, nhưng thực chất lại là chữ “Tâm”. Bởi vì chữ Tâm (心) có một nét móc bên dưới và ba điểm bên trên, trông giống như ba ngôi sao nhỏ trên mặt trăng lưỡi liềm: Một vầng trăng khuyết ba sao giữa trời.

Như vậy, nơi ở của Tổ Sư Bồ Đề chính là “Tâm”, ngụ ý rằng Tôn Ngộ Không nhờ tu tâm mà thành Đạo. Trên đường lấy kinh, Đường Tăng cũng thường gọi Ngộ Không là “Tâm Viên”. “Tây Du Ký” có 100 hồi, chỉ riêng hai chữ “Tâm Viên” đã xuất hiện hơn mười lần trong tiêu đề các chương hồi. Cũng chính là nói, cái tâm này đã bảo hộ Đường Tăng tu thành chính quả.

Hồi thứ 98 “Vượn ngựa thục thuần nay thoát xác, công quả viên mãn gặp Như Lai” kể rằng, sau khi trải qua đủ mọi ma nạn, cuối cùng bốn thầy trò Đường Tăng cũng đến được Tây Thiên. Trong truyện viết:

Tam Tạng tỉnh ngộ ra, vội quay người lại lạy tạ ba đồ đệ.

Hành Giả nói: “Hai bên chẳng phải tạ ơn nhau, bởi cả hai cùng giúp nhau đấy chứ. Chúng con nhờ sư phụ mà được giải thoát, mượn đường lối tu hành, may thành chính quả. Còn sư phụ nhờ chúng con hộ vệ mà giữ giáo Già Lam, thoát khỏi thai phàm”.

Ở đây, Tôn Ngộ Không đã minh bạch chỉ ra rằng: Mặc dù ba huynh đệ Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đều có thần thông, Tôn Ngộ Không chỉ cần một cái lộn nhào liền có thể đến Linh Sơn gặp Phật, nhưng Phật Tổ Như Lai lại không trực tiếp trao chân kinh cho Ngộ Không. Thay vào đó, Ngộ Không cần phải bảo hộ Đường Tăng, trừ ma diệt quái, từng bước từng bước bộ hành đến Tây Thiên mới có thể lấy được chân kinh. Đến khi ấy, thầy trò mới có thể chứng đắc quả vị.

(Ảnh: Khu vực công cộng)

Toàn bộ “Tây Du Ký” ẩn hiện rất nhiều đạo lý cao thâm, nhưng trong giới hạn bài viết này tôi không thể liệt kê tất cả mà chỉ mạn phép đưa ra hai ví dụ điển hình.

Hồi thứ nhất có đoạn:

Hầu vương hưởng phúc vui vẻ, thoắt đã ba bốn trăm năm. Một hôm, Hầu vương đang cùng bạn bè yến tiệc vui vẻ, bỗng nhiên trở nên phiền não, nước mắt giàn giụa. Lũ khỉ thấy thế sợ hãi sụp lạy, hỏi: “Đại vương làm sao thế?”

Hầu vương nói: “Ta tuy trong lúc vui thích, nhưng có một điều phải lo xa, cho nên phiền não”.

Lũ khỉ lại cười nói: “Đại vương thực không biết thế nào là đủ. Chúng ta đang ngày ngày hưởng sung sướng ở nơi phúc địa non tiên, thần châu cổ động, không chịu kỳ lân cai trị, phượng hoàng quản lý, lại chẳng bị vua chúa nhân gian câu thúc, tự do tự tại, thực là vô cùng hạnh phúc, việc gì phải lo xa, chuốc lấy phiền não nữa!”

Hầu vương nói: “Ngày nay tuy không phải theo pháp luật của vua chúa, không sợ oai quyền của thú muông, nhưng một mai tuổi già sức yếu, lão Diêm Vương vẫn ngấm ngầm quản lý. Một ngày kia chết đi, chẳng hóa uổng công sinh ở thế gian, không được hưởng mãi phúc trời ư?”

Lũ khỉ nghe nói như thế, con nào con nấy cúi đầu che mặt khóc thút thít, lo sợ về nỗi vô thường.

Bỗng trong ban bệ, một con vượn lưng thẳng nhảy ra, lớn tiếng thưa rằng: “Đại vương biết lo xa như thế, vậy là đạo tâm thực đã khai phát rồi đấy. Hiện nay ngoài năm giống thì có ba bậc danh sắc là không bị Diêm vương cai quản. Đó là ba bậc: Phật, Tiên và Thần thánh, thoát khỏi luân hồi, không sinh không diệt, thọ ngang cùng trời đất, núi sông”.

Hầu vương nói: “Ba bậc ấy ở đâu?”

Con vượn thưa: “Họ ở ngay trong thế giới Diêm phù này, những nơi động cổ, núi tiên”.

Hầu vương nghe nói, trong lòng thỏa mãn vui mừng nói rằng: “Ngày mai ta sẽ từ giã các ngươi xuống núi, đi khắp góc biển chân trời, quyết tâm tìm cho được ba đấng ấy, học lấy phép sống mãi không già, để tránh nạn Diêm Vương”.

Ôi, câu nói đó thúc giục vượt qua lưới luân hồi, làm thành Tề Thiên Đại Thánh!

Toàn bộ cuộc đối thoại phía trước chỉ là để làm sáng tỏ câu nói cuối cùng: “Câu nói đó thúc giục vượt qua lưới luân hồi, làm thành Tề Thiên Đại Thánh!” Ấy là bởi Tôn Ngộ Không đã xuất tâm tu Đạo, do đó mới thành tựu nên một “Tề Thiên Đại Thánh” sau này.

(Ảnh: Tố Tố / Epoch Times)

Hồi thứ 8 “Phật Tổ tạo kinh truyền cực lạc, Quan Âm vâng mệnh đến Tràng An” kể rằng, Đức Phật Như Lai muốn truyền Pháp về phương Đông, bèn tìm trong các đệ tử một người có thể sang Đông thổ tìm người đi lấy kinh. Trong truyện viết:

Như Lai đáp: “Ba tạng chân kinh của ta, một là Pháp tạng bàn về trời, hai là Luận tạng bàn về đất, ba là Kinh tạng độ cho ma quỷ. Ba tạng gồm ba mươi lăm bộ, cả thảy một vạn năm nghìn một trăm bốn mươi quyển. Đó là kinh tu luyện chân tâm, cửa vào cõi thiện, mà ta muốn truyền sang phương Đông. Khốn nỗi chúng sinh nơi đó ngu xuẩn hủy báng chân ngôn, không biết yếu chỉ trong pháp môn của ta, coi thường cả chính tông du già”.

“Nay làm sao có được một người có pháp lực sang phương Đông tìm một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến chỗ ta cầu lấy chân kinh, để lưu truyền bên phương Đông mãi mãi, khuyến hóa cho chúng sinh, thì đó là một phúc duyên cao rộng như núi, việc thiện sâu như bể vậy đó. Có ai dám chịu đi một chuyến không?”

Khi ấy, Quan Âm Bồ Tát bước tới gần đài sen, lạy Phật Yổ ba lạy, rồi nói: “Đệ tử bất tài, xin sang phương Đông tìm người lấy kinh”.

Đây là khởi nguồn cho việc Quan Âm Bồ Tát đến Đông thổ điểm hóa cho Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Trước khi Bồ Tát lên đường, Phật Như Lai căn dặn rằng: “Chuyến đi này phải đi trên mặt đường, không được đi tít trên tầng mây. Mắt cần phải để ý sông núi, ghi nhớ kỹ càng đường sá xa xôi thế nào mà ân cần dặn dò lại cho người lấy kinh.”

Dọc đường, Bồ Tát đã thay mặt Đường Tăng thu nhận ba đồ đệ, đồng thời an bài con đường tu hành cho Tam Tạng. Mỗi khi Đường Tăng gặp nạn, hầu hết đều do Quan Âm Bồ Tát tới giải cứu. Có thể thấy, Bồ Tát đã thay mặt Phật Tổ Như Lai phổ độ chúng sinh, bảo hộ người tu luyện suốt con đường sang Tây thiên.

Trong “Tây Du Ký” còn có một chi tiết nữa khiến độc giả thắc mắc. Hồi thứ 12 “Vua Đường lòng thành mở đại hội, Quan Âm hiển thánh hóa Kim Thiền” kể rằng: Quan Âm Bồ Tát hiện chân thân trước mặt Hoàng đế Đường Thái Tông và điểm hóa Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh. Sau khi biến mất, Bồ Tát còn lưu lại một bài tụng. Trong truyện viết:

Một tờ thiếp từ trên không trung phấp phới bay xuống, trên có mấy lời tụng, viết rất rõ ràng. Lời tụng rằng:

Gửi vua Đường đáng kính,
Phương Tây có diệu kinh.
Đường mười tám nghìn dặm.
Đại thừa ân cần dâng.
Kinh này về thượng quốc.
Siêu độ cho chúng sinh.
Nếu ai chịu đi thỉnh
Kim thân thành chính quả.

Câu đầu tiên là “Lễ thượng Đại Đường quân” (gửi vua Đường đáng kính) khiến nhiều người suy nghĩ. Quan Âm Bồ Tát là Thần Tiên nơi cõi Phật, còn Đường Thái Tông chỉ là một vị hoàng đế ở nhân gian, cho dù địa vị cao sang và quyền uy tột bậc thì vẫn chỉ là người bình thường giữa cõi hồng trần. Vậy vì sao Bồ Tát lại nhún mình cung kính đối với Hoàng đế Thái Tông đến vậy?

Sau khi tu luyện Đại Pháp, rất nhiều pháp lý trong “Tây Du Ký” đều trở nên rõ ràng minh hiển trước mắt tôi, có lẽ đó là bởi vì nội hàm của Đại Pháp vượt rất xa những điều giảng trong “Tây Du Ký”. Nhưng kể chuyện “Tây Du Ký” không phải là mục đích, mà mục đích là muốn nói rằng: Càng tinh tấn tu luyện, càng lĩnh hội được những pháp lý cao thâm lại càng thấy Đại Pháp mới thực là Thiên Thư chân chính. Từng câu từng câu đều là đạo lý, từng chữ từng chữ đều là thiên cơ, trong mê mang mờ mịt may mắn đắc được chính Pháp, quả là điều đáng để chúng ta trân quý vạn phần.

Theo Chương Thiên Lượng - Epoch Times
Minh Hạnh biên dịch



BÀI CHỌN LỌC

Giáo sư Chương Thiên Lượng: Tây Du Ký nhàn đàm