Tại sao chúng ta tin vào khoa học, trong khi nó không tin vào chính nó

Bình luận Ánh Dương • 10:35, 29/09/22

Giúp NTDVN sửa lỗi

Nhiều người trong chúng ta chấp nhận khoa học là đáng tin cậy - nhưng thực tế lại không phải luôn là như vậy. Lịch sử khoa học cho thấy rằng, những gì mà các nhà khoa học đã tin, thì một ngày nào đó nó có thể trở thành sai. 

Sự thiếu tin tưởng vào khoa học (ở đây đề cập đến Khoa học cơ bản) đã dẫn đến sự hoài nghi xung quanh một số vấn đề quan trọng như: Từ chối biến đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính; hoặc Nghi ngờ hiệu quả của vaccine trong đại dịch COVID-19.

Đa số trong chúng ta có xu hướng bác bỏ những hoài nghi như vậy, điều này là không có cơ sở. Tuy nhiên nó cũng đưa đến cho chúng ta một câu hỏi quan trọng: tại sao chúng ta lại tin vào khoa học?

Là một triết gia tập trung vào triết lý khoa học, tôi đặc biệt bị thu hút bởi câu hỏi này. Hóa ra, việc tìm hiểu kỹ các tác phẩm của những nhà tư tưởng vĩ đại có thể giúp đưa ra câu trả lời.

Tổng quan chung về cuộc tranh luận khoa học

Một suy nghĩ ban đầu có thể xuất hiện trong tâm trí là chúng ta nên tin tưởng các nhà khoa học vì những gì họ nói là đúng.

Nhưng có vấn đề với điều này. Một là câu hỏi liệu những gì một nhà khoa học nói trên thực tế có phải là sự thật hay không. Những người hoài nghi sẽ chỉ ra rằng các nhà khoa học chỉ là con người và vẫn dễ mắc sai lầm.

Ngoài ra, nếu chúng ta nhìn vào lịch sử khoa học, chúng ta thấy rằng những gì các nhà khoa học tin tưởng trong quá khứ thường trở thành sai lầm. Và có tồn tại thực tế rằng những gì mà các nhà khoa học đã tin, thì một ngày nào đó nó có thể trở thành sai.

Ví dụ, có những thời điểm trong lịch sử, người ta nghĩ rằng thủy ngân có thể điều trị bệnh giang mai và những vết sưng trên hộp sọ của một người có thể tiết lộ đặc điểm tâm thần của họ.

Một điều hấp dẫn khác dẫn đến lý do tại sao chúng ta nên tin tưởng vào khoa học là bởi vì nó dựa trên “sự kiện và logic”.

Điều này có thể đúng, nhưng không may là nó chỉ giúp ích trong việc thuyết phục một người có khuynh hướng bác bỏ những gì các nhà khoa học nói. Cả hai bên trong một cuộc tranh chấp sẽ tuyên bố rằng sự thật sẽ luôn đứng về phía mình. Những người phủ nhận biến đổi khí hậu nói rằng sự nóng lên toàn cầu chỉ là một “giả thuyết” cũng không phải là không có cơ sở.

Popper và phương pháp khoa học

Một lý do khác khiến chúng ta tin tưởng vào khoa học mà không đặt câu hỏi ngược lại là bởi vì chúng ta nghĩ rằng: họ sử dụng phương pháp khoa học. Tất nhiên, điều này lại đặt ra câu hỏi: phương pháp khoa học là gì?

Có thể câu trả lời nổi tiếng nhất là của nhà triết học khoa học Karl Popper, người đã có nhiều ảnh hưởng đến các nhà vật lý toán học từng đoạt Huy chương Einstein và những người đoạt giải Nobel về sinh học, sinh lý học và y học.

Karl Popper người Anh-Áo (1902-1994) là một trong những triết gia khoa học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20.
Karl Popper người Anh-Áo (1902-1994) là một trong những triết gia khoa học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. Ảnh: Wikimedia

Đối với Popper, khoa học tiến hành bằng cách mà ông gọi là “phỏng đoán và bác bỏ”. Các nhà khoa học khi đối mặt với một số câu hỏi, họ quan sát và đưa ra một câu giải thích khả thi. Câu trả lời này là một phỏng đoán theo đúng nghĩa đen, ít nhất là ban đầu, người ta không biết nó đúng hay sai.

Popper cho biết các nhà khoa học sau đó sẽ cố gắng hết sức để bác bỏ phỏng đoán này, hoặc chứng minh nó sai. Thông thường, nó bị bác bỏ, bị từ chối và được thay thế bằng một cách giải thích khác tốt hơn. Cái này sau đó cũng sẽ được kiểm tra và cuối cùng được thay thế bằng cách giải thích tốt hơn nữa. Bằng cách này, khoa học tiến bộ từng bước một.

Đôi khi quá trình này có thể cực kỳ chậm. Albert Einstein đã tiên đoán về sự tồn tại của sóng hấp dẫn cách đây hơn 100 năm, như một phần trong thuyết tương đối rộng của ông. Nhưng chỉ đến năm 2015, các nhà khoa học mới quan sát được chúng.

Đối với Popper, cốt lõi của phương pháp khoa học là nỗ lực bác bỏ hoặc chứng minh các giả thuyết là sai, được gọi là “nguyên tắc giả định”. Nếu các nhà khoa học đã không thể bác bỏ một lý thuyết trong một thời gian dài, mặc dù họ đã cố gắng hết sức, thì theo thuật ngữ của Popper, lý thuyết đã được “chứng thực”.

Điều này gợi ý một câu trả lời khả thi cho câu hỏi tại sao chúng ta lại tin vào những gì các nhà khoa học nói. Đó là bởi vì, dù đã cố gắng hết sức, họ vẫn không thể bác bỏ ý kiến mà họ đang nói với chúng ta.

Quy tắc đa số

Gần đây, một câu trả lời cho câu hỏi này đã được nhà sử học khoa học Naomi Oreskes trình bày rõ hơn trong một cuốn sách. Oreskes thừa nhận tầm quan trọng mà Popper đưa ra vai trò cố gắng bác bỏ một giả thuyết, nhưng ông cũng nhấn mạnh đến các yếu tố xã hội và sự đồng thuận của thực hành khoa học.

Đối với Oreskes, chúng ta có lý do để tin tưởng vào khoa học bởi vì, hoặc ở mức độ nào đó, có sự đồng thuận giữa cộng đồng khoa học (có liên quan) rằng một tuyên bố cụ thể là đúng - trong đó chính cộng đồng khoa học đó đã cố gắng hết sức để bác bỏ nó, và đã không thành công.

Quy trình xác nhận giả thuyết khoa học

Dưới đây là một bản phác thảo ngắn gọn về những gì một ý tưởng khoa học thường trải qua trước khi có sự đồng thuận rằng nó là đúng.

Một nhà khoa học có thể đưa ra một bài báo về một số ý tưởng cho các đồng nghiệp, sau đó họ sẽ thảo luận về nó. Mục đích của cuộc thảo luận này là tìm ra điều gì đó không ổn với nó. Nếu bài báo vượt qua bài kiểm tra, nhà khoa học có thể viết một bài báo được đồng nghiệp đánh giá về ý tưởng đó. Nếu Hội đồng trọng tài khoa học cho rằng nó có thể là đúng, nó sẽ được công bố.

Những người khác sau đó có thể đưa ý tưởng vào các thử nghiệm thực nghiệm. Nếu nó vượt qua một số lượng đủ về thực nghiệm, một sự đồng thuận có thể xuất hiện rằng nó là chính xác.

Một ví dụ điển hình về một giả thuyết đang trải qua quá trình đánh giá ngang hàng này là lý thuyết về sự nóng lên toàn cầu và tác động của con người lên nó. Ngay từ năm 1896, người ta đã đề xuất rằng mức độ gia tăng của carbon dioxide trong bầu khí quyển của Trái đất có thể dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu.

Vào đầu thế kỷ 20, một giả thuyết khác đã xuất hiện rằng không chỉ điều này đang xảy ra mà carbon dioxide thải ra từ các hoạt động của con người (cụ thể là đốt nhiên liệu hóa thạch) có thể làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu. Nó đã nhận được một số tài trợ kinh phí vào thời điểm đó, nhưng hầu hết các nhà khoa học vẫn không bị thuyết phục.

Tuy nhiên, trong suốt nửa sau của thế kỷ 20 và những gì đã trôi qua cho đến nay của thế kỷ 21, giả thuyết về biến đổi khí hậu do con người gây ra đã vượt qua thử nghiệm, liên tục thành công đến mức một nghiên cứu tổng hợp gần đây đã tìm thấy hơn 99% cộng đồng khoa học có liên quan chấp nhận thực tế của nó. Nó bắt đầu có lẽ chỉ là một giả thuyết, đã vượt qua thử nghiệm thành công trong hơn một trăm năm, và hiện đã được chấp nhận gần như phổ biến.

Điểm mấu chốt

Điều này không nhất thiết có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận mọi thứ mà các nhà khoa học nói. Tất nhiên có sự khác biệt giữa một nhà khoa học đơn lẻ hoặc một nhóm nhỏ về một điều gì đó, và có sự đồng thuận trong cộng đồng khoa học rằng điều gì đó là đúng.

Và, tất nhiên, vì nhiều lý do - ảnh hưởng của thực tế xã hội, vấn đề tài chính, hoặc một số vấn đề khác - các nhà khoa học có thể đã không thể có đủ nguồn lực để bác bỏ một số giả thuyết. Và ngay cả khi các nhà khoa học đã nhiều lần cố gắng phản bác một lý thuyết nhưng đã không thành công, thì lịch sử khoa học cho thấy vào một thời điểm nào đó trong tương lai, nó vẫn có thể là sai khi bằng chứng mới được đưa ra ánh sáng.

Vậy khi nào chúng ta nên tin vào khoa học? Quan điểm từ Popper, Oreskes và các tác giả khác trong lĩnh vực này là: chúng ta có lý do để tin, nhưng vẫn có thể là sai. Chúng ta có thể tin những gì các nhà khoa học nói trong một thời gian, khi họ đã cố gắng để bác bỏ một giả thuyết mà không thành công và có sự đồng thuận rằng điều đó là đúng.

Theo The Conversation

Tác giả: John Wright/Nghiên cứu viên về Triết học, Đại học La Trobe, Úc

Tuyên bố của ông: John Wright không làm việc cho ai, không nhận tư vấn, không sở hữu cổ phần, hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hoặc tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này; và không có liên quan nào ngoài vấn đề về thảo luận học thuật.

Phân biệt Khoa học cơ bản với Khoa học ứng dụng

Khoa học cơ bản và Khoa học ứng dụng có thể phân biệt trên cơ sở 3 tiêu chí: (1) Động cơ nghiên cứu; (2) Sản phẩm nghiên cứu, và (3) Giá trị nội tại.

  1. Động cơ của khoa học cơ bản là mở rộng tri thức của con người. Còn khoa học ứng dụng thì có động cơ chính là ứng dụng tri thức, biến đổi hoặc cải tiến phương pháp, hay giải quyết vấn đề thực tế. Nếu khoa học cơ bản phát hiện ra gen, thì khoa học ứng dụng có thể phân tích xem gen đó có liên quan đến bệnh tật không, nếu có thì có thể can thiệp để giảm nguy cơ mắc bệnh. Khoa học ứng dụng cũng có thể là những nghiên cứu thực tế hơn như cải tiến một phương pháp hiện hành cho một điều kiện mới.
  1. Sản phẩm nghiên cứu của khoa học cơ bản là tri thức mới mang tính lý thuyết và dữ liệu mới. Các nhà khoa học cơ bản không biết công trình và kết quả của họ sẽ ứng dụng cho cái gì. Khoa học ứng dụng là những công trình nghiêng về ứng dụng những tri thức hiện hành để có những kết quả cho một mục đích cụ thể.
  2. Khái niệm “internal goods” – giá trị nội tại – là những giá trị bao hàm trong hành động thực tiễn. Đối với khoa học cơ bản, giá trị nội tại hiểu thế giới chung quanh. Đối với khoa học ứng dụng, giá trị nội tại là thay đổi thế giới (hoặc gìn giữ không cho thay đổi)

Bạn bình luận gì về tin này?



BÀI CHỌN LỌC

Tại sao chúng ta tin vào khoa học, trong khi nó không tin vào chính nó