Khối nợ kỷ lục toàn cầu và các khoản lỗ do lãi suất cao đang thúc đẩy cuộc khủng hoảng kế tiếp?

Giúp NTDVN sửa lỗi

Lãi suất cao đang đe doạ khối nợ toàn cầu kỷ lục cả khu vực công và tư. Lãi suất cao cũng thúc đẩy các khối tài sản tài chính dài hạn như chứng khoán nợ bất động sản dài hạn, trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ đang bị mất giá khiến các ngân hàng, quỹ phải gánh chịu khoản lỗ tới 15-20% giá trị sổ sách.

Khối nợ khổng lồ, rủi ro tài chính tăng cao

Nợ toàn cầu, số tuyệt đối và tương đối tính theo GDP, mở rộng 3 năm liên tiếp, thiết lập kỷ lục mới năm 2023 (tăng thêm 15 nghìn tỷ USD), đạt mức 313 nghìn tỷ USD; tỷ lệ nợ/GDP toàn cầu lên tới 330%. Khối nợ này trở nên rủi ro hơn, khả năng vỡ nợ gia tăng khi các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn đều thắt chặt chính sách tiền tệ, đẩy lãi suất chính lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ (với USD, EUR,..).

Hơn một nửa, 55% mức tăng nợ toàn cầu, đến từ các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, theo báo cáo của IMF tháng 2/2024. Nợ toàn cầu tăng hơn 25% trong 5 năm và cảnh báo rằng sự chuyển hướng sang chủ nghĩa dân túy có thể thúc đẩy nợ cao hơn nữa trong năm tới, theo Viện Tài chính toàn cầu (IIF).

Trong cơ cấu nợ toàn cầu, nợ chính phủ tăng mạnh nhất trong khi khả năng trả nợ suy giảm. Theo IIF, nợ chính phủ tăng 7,4% năm 2023, nợ khu vực doanh nghiệp phi tài chính tăng cao thứ hai ở mức 4,8%. Báo cáo của IIF lưu ý rằng nợ chính phủ không trả được nợ 2023 đã đạt mức cao kỷ lục trên 554 tỷ USD cho đến cuối năm 2022. Khoảng một nửa số nợ này là nợ trái phiếu.

Báo cáo WB cho biết 75 quốc gia nghèo nhất bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Các khoản thanh toán dịch vụ nợ công nước ngoài của họ đạt mức kỷ lục 88,9 tỷ USD vào năm 2022 và sẽ tăng 40% trong giai đoạn 2023-2024. Chỉ riêng khoản thanh toán lãi của họ đã tăng gấp bốn lần kể từ năm 2012 lên 23,6 tỷ USD.Trong giai đoạn từ Q1-2010 đến Q1-2024, Trung Quốc chiếm 65% tăng trưởng nợ chính phủ và 76% tăng trưởng nợ tư nhân phi tài chính ở các nước đang phát triển.

Ngược lại, nợ ở các các nước đang phát triển khác có xu hướng tăng vay nợ nước ngoài (bằng ngoại tệ mạnh) từ các nước phát triển. Các nền kinh tế phát triển dễ bị tổn thương trước những cú sốc bên ngoài và dòng vốn vào “dừng đột ngột”. Tính dễ bị tổn thương rất rõ nét trong trong bối cảnh hiện tại khi chính sách tiền tệ tiếp tục thắt chặt ở các nền kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy xu hướng dòng vốn đảo chiều khỏi các nền kinh tế đang phát triển ra bởi lãi suất quốc tế tăng mạnh. Mức nợ cao như hiện nay khiến các nước đang phát triển có nhiều rủi ro hơn gặp khó khăn về tài chính, có thể gây khó khăn cho việc tái cấp vốn và dẫn đến một cuộc khủng hoảng nợ.

Nợ doanh nghiệp tăng cao, chất lượng nợ suy giảm. Năm 2023, nợ doanh nghiệp phi tài chính toàn cầu chiếm 30,15% tổng nợ toàn cầu, cao nhất trong cơ cấu nợ so với hộ gia đình, chính phủ và khu vực tài chính. Tuy nhiên, chất lượng nợ của khu vực doanh nghiệp phi tài chính suy giảm qua số liệu về sự gia tăng của doanh nghiệp xác sống, trái phiếu doanh nghiệp xếp hạng BBB (hạng đầu cơ) trên thị trường vốn và tỷ lệ vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trên thị trường toàn cầu cao nhất kể từ năm 2010, dự báo tiếp tục tăng từ nay đến cuối năm 2024, theo Standard and Poor.

Lãi suất cao và chương trình hỗ trợ kết thúc thúc đẩy làn sóng phá sản mới?

Trong quý đầu tiền của năm 2023, thế giới chứng kiến làn sóng phá sản 03 ngân hàng thương mại (NHTM) tại Mỹ (trong đó có 01 NHTM có tầm ảnh hưởng trọng yếu cấp quốc gia của Mỹ D-SIB và 02 NHTM nhỏ) là Ngân hàng Thung lũng Silincon (SVB), Ngân hàng Đệ nhất Cộng hoà (FRB), Ngân hàng Silvergate, ngay sau đó là sự sụp đổ của 01 NHTM có tầm ảnh hưởng trọng yếu toàn cầu (G-SIB) là Credit Suisse của Thuỵ Sỹ.

Như vậy, làn sóng phá sản NHTM đã diễn ra chỉ sau 01 năm Fed tăng lãi suất để chống lạm phát. Đây cũng là thời điểm mà lợi suất TPCP Mỹ, lợi suất chứng khoán nợ tăng mạnh. Điều này khiến các NHTM nắm giữ tỷ lệ TPCP Mỹ, chứng khoán nợ BĐS như MBS, CDO bị thua lỗ nghiêm trọng, có thể mất tới 20- 30% giá gốc. Về cơ bản, có năm nguyên nhân chính dẫn tới làn sóng phá sản 2023:

Thứ nhất, không phải là sự sụp đổ của NHTM mà là sự sụp đổ của tổ hợp tài chính nơi đầu tư và đầu cơ với khẩu vị rủi ro cao. Trường hợp phá sản của SVB, FRB và Credit Suisse có đặc điểm chung là đổ vỡ cả tổ hợp tài chính, trong đó NHTM chỉ là một công ty con trong hệ thống. Ngoài ra, NHTM của các tổ hợp này đều là các công ty con đang hoạt động hiệu quả nhất, mang lại nguồn huy động và lợi nhuận tốt nhất. Nguyên nhân dẫn tới phát sản đều nằm ở danh mục đầu tư, khẩu vị rủi ro của các tổ hợp tài chính này quá lớn.

Các khoản đầu tư của Credit Suisse cũng cho thấy tập đoàn này có khẩu vị rủi ro cao khi đầu tư nhiều vào các sản phẩm của quỹ phòng hộ, quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư mạo hiểm trong giai đoạn lãi suất thấp, huy động dồi dào. Báo cáo tài chính hợp nhất của Credit Suisse năm 2022 cho thấy tổng tài sản là 579,4 tỷ USD tính đến cuối năm 2022, giảm 244,78 tỷ USD, tương đương 30% so với cuối năm 2021. Tiền mặt và các khoản phải trả từ các ngân hàng giảm 105 tỷ USD, tương đương 58%. Tài sản giao dịch giảm 49,83 tỷ USD, tương đương mức giảm 41%, chủ yếu phản ánh sự sụt giảm của chứng khoán vốn, chứng khoán nợ và các công cụ phái sinh.

Cấu trúc tài sản tài sản và nguồn vốn cho thấy tổ hợp tài chính này huy động ngắn hạn (bởi NHTM) và đầu tư, cho vay dài hạn (trong danh mục đầu tư của NHTM và các công ty đầu tư trong tổ hợp). Các lớp tài sản đầu tư như TPCP Mỹ, chứng khoán nợ (như MBS, TPDN...), chứng khoán vốn, công cụ phái sinh, đều là các lớp tài sản chịu tác động mạnh bởi chính sách tiền tệ thắt chặt (lãi suất tăng cao).

Thứ hai, các lớp tài sản đầu tư có rủi ro tăng trưởng quá mức khi lãi suất thấp, lại sụt giảm giá trị quá nhanh khi lãi suất chính sách tăng mạnh.

TPCP Mỹ, chứng khoán nợ và các công cụ phái sinh (trường hợp của Credit Suisse) đều chịu rủi ro lớn khi chính sách lãi suất của các NHTW đảo chiều. Việc tăng lãi suất khiến lợi suất TPCP Mỹ tăng, chứng khoán nợ và công cụ phái sinh tăng mạnh. Việc này khiến các định chế nắm giữ tài sản như vậy sẽ chịu lỗ khi buộc phải bán tài sản để đáp ứng thanh khoản.

Thứ ba, không có ghi nhận lỗ theo giá thị trường kịp thời trên bảng cân đối kế toán của tập đoàn tài chính đổ vỡ

Trong trường hợp của SVB và FRB, khối tài sản của các định chế này đã tăng gấp đôi sau 2 năm đại dịch, khi tiền lãi suất thấp tràn ngập thị trường do chính sách nới lỏng tiền tệ của Fed và các NHTW khắp toàn cầu. Với Credit Suisse, tài sản cũng mở rộng thêm 20% trong 12 tháng đầu tiên của đại dịch. Huy động tiền lãi suất thấp, các định chế lại có sẵn công cụ đầu tư (là các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và NHĐT), dòng tiền đã đổ về đầu tư tài sản dài hạn như TPDN Hoa Kỳ, chứng khoán hoá khoản vay có tài sản đảm bảo (MBS), rồi thậm chí còn cả đầu cơ trên thị trường phái sinh như Credit Suisse mà không phải là dùng thị trường phái sinh để bảo hiểm cho sự mất giá của tài sản.

Các tài sản đầu dài hạn tư từ dòng tiền ngắn hạn này nhanh chóng mất giá, ghi nhận lỗ từ năm 2022 khi lợi suất tăng với TPCP Mỹ, chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và công cụ phái sinh. Tuy nhiên, do hạch toán kế toán không ghi nhận kịp thời giá trị thị trường đã khiến nhà đầu tư không nhận diện được rủi ro suy giảm tài sản kịp thời. Điều này khiến các chỉ số an toàn tài chính của các định chế vẫn nằm trong khuôn khổ của cơ quan quản lý.

Thứ tư, rủi ro mất thanh khoản do chênh lệch kỳ hạn khi huy động ngắn hạn nhưng đầu tư quá mức vào tài sản tài chính dài hạn.

Trường hợp của SVB cho thấy huy động chủ yếu là không kỳ hạn hoặc kỳ hạn dưới 12 tháng nhưng đầu tư của định chế này lại là các khoản đầu tư vào quỹ dài hạn, vào các sản phẩm tài chính dài hạn; 51% tổng tài sản là đầu tư tài chính dài hạn, có rủi ro cao với lãi suất chính sách của NHTW (8% tổng tài sản đầu tư vào TPCP Mỹ, 43% tổng tài sản đầu tư vào MBS)

Cuối cùng nhưng quan trọng nhất, xung đột lợi ích căn bản đã dẫn tới cả 4 rủi ro ở trên - nguyên nhân của nhiều vụ phá sản ngân hàng trong gần 100 năm qua.

Nguyên nhân sụp đổ các tổ hợp NHTM ở trên có nhiều đặc điểm tương tự thời điểm diễn ra Đại khủng hoảng 1929-1933. Tìm hiểu nguyên nhân của Đại khủng hoảng tài chính 1929-1933, các nhà nghiên cứu và làm chính sách tin rằng việc để NHTM (những định chế đáng ra chỉ được thu hút tiền gửi và cho vay) được thoải mái phát triển mảng kinh doanh đầu tư, đầu cơ trên thị trường tài chính (chứng khoán nợ, phái sinh tài chính,...) trong khi thiếu kiểm soát và giám sát rủi ro là nguyên nhân dẫn tới suy thoái đạo đức ngân hàng, dẫn tới đầu cơ quá mức vào thị trường chứng khoán (do tiền từ bộ phần đầu tư của NHTM đổ vào), dẫn tới rủi ro kỳ hạn khi huy động ngắn hạn lại cho vay dài hạn, chủ yếu là các khoản cho vay vào dự án BĐS, các tài sản BĐS và chứng khoán hóa khoản vay mua nhà ở Mỹ.

Giải pháp ngăn chặn làn sóng phá sản của Fed năm 2023: Fed đã thiết kế chương trình cứu trợ mua lại có kỳ hạn các chứng khoán nợ (gồm trái phiếu chính phủ (TPCP) Mỹ, chứng khoán nợ có tài sản đảm bảo (MBS), CDO: những chứng khoán đang chịu lỗ cao do lãi suất chính sách cao) của các NHTM theo giá sổ sách; chương trình này có tên viết tắt là BTFP, bắt đầu từ ngày 11/3/2023 và kết thúc vào ngày 11/3/2024. Bằng cách này, các NHTM của Mỹ không phải chịu rủi ro lỗ từ khối tài sản tài chính mà họ đã đầu tư. Khi cần tiền để hỗ trợ thanh khoản, họ sẽ bán TPCP, MBS, CDO,.. cho Fed. Các NHTM sẽ mua lại các tài sản tài chính này từ Fed sau đó. Chương trình này đã ngăn các NHTM ở Mỹ gặp phải rủi ro lãi suất khiến các tài sản thua lỗ tới 20 - 30% giá gốc và buộc phải phá sản giống các NHTM đề cập ở trên.

Ngay khi chương trình BTFP kết thúc vào tháng 3/2024, Mỹ đã có thêm 01 NHTM địa phương nhỏ phá sản. Ngoài ra, lợi suất TPCP Mỹ tăng mạnh sau khi chương trình này kết thúc vì các NHTM không thể tiếp tục bán chứng khoán nợ cho Fed để đáp ứng thanh khoản, buộc phải bán chứng khoán nợ ra thị trường thứ cấp. Trên thị trường thứ cấp, nguồn cung chứng khoán nợ còn đến từ Fed khi cơ quan này phải dừng gói QE3 và bán dần tài sản là chứng khoán nợ (MBS) đang nắm giữ, điều này thúc đẩy tăng làm tăng lợi suất chứng khoán nợ. Hiện tại, lợi suất TPCP Mỹ kỳ hạn 10 năm ở mức 4,7%, cao hơn gần 1% so với thời điểm gói BTFP còn hiệu lực; mức lợi suất này cao nhất trong 17 năm qua, tương đương với mức lợi suất trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Bản thân Fed cũng lần đầu tiên (kể từ khi thành lập năm 1913) tuyên bố lỗ 161 tỷ USD do bán chứng khoán nợ theo lộ trình cắt giảm QE3.

Gói hỗ trợ BTFP kết thúc, không được gia hạn thêm, trong khi Fed chưa thể đảo chiều chính sách tiền tệ, ít nhất cho tới tháng 9/2024 hoặc tệ hơn nữa là vào tháng 11/2024 đã khiến thị trường chứng khoán nợ rủi ro, làn sóng phá sản các NHTM Hoa Kỳ có thể tái khởi động. Ngoài ra, rủi ro nợ bất động sản thương mại đang gia tăng trong các NHTM Hoa Kỳ.

Lãi suất không giảm và lạm phát dai dẳng có thể trở thổi bùng lên khủng hoảng tài chính kế tiếp. Đường cong lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ (kỳ hạn 10 năm trừ đi lợi suất TPCP kỳ hạn 2 năm) đã đảo chiều (mang giá trị âm) từ giữa năm 2022 (khi Fed bắt đầu tăng lãi suất). Trong lịch sử, bất kỳ khi nào lợi suất TPCP Hoa Kỳ đảo chiều, một cuộc khủng hoảng tài chính sẽ xuất hiện sau đó. Chỉ số này chưa từng dẫn báo sai hoặc bỏ lỡ bất kỳ một cuộc khủng hoảng nào ở Hoa Kỳ. Điều tương tự cũng xảy ra với lãi suất chính sách của Fed, các cuộc suy thoái, khủng hoảng kinh tế - tài chính có thể xảy ra tại Hoa Kỳ sau khi Fed bắt đầu chu kỳ hạ lãi suất.

Đàm Linh

NGUỒN TIN THAM KHẢO

  1. https://www.iif.com/portals/0/Files/content/Global%20Debt%20Monitor_Feb2024_vf.pdf?_cldee=MFuVYCKV1NutVo6vgmCa-QDlfYoeB9rgmDTFEXZqpoNr9JwOCRCjncyhex1PNdh3&recipientid=contact-00c7be94172aeb1180ec000d3a0f728a-6a7da6bf79374549913bfa93d7d26f80&utm_source=ClickDimensions&utm_medium=email&utm_campaign=Press%20Emails&esid=754ffa19-dccc-ee11-9079-000d3a99aa70#:~:text=Global%20debt%20surged%20by%20over,U.S.%2C%20France%2C%20and%20Germany
  2. https://www.allianzgi.com/-/media/allianzgi/globalagi/editorial/zombie-companies/zombie-companies.pdf
  3. Theo số liệu Fed St. Louis, lợi suất TPCP Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng từ 1,92% tháng 2/2022 lên tới 3,92% vào tháng 2/2023.
  4. https://www.federalreserve.gov/newsevents/pressreleases/files/monetary20240124a1.pdf

 



BÀI CHỌN LỌC

Khối nợ kỷ lục toàn cầu và các khoản lỗ do lãi suất cao đang thúc đẩy cuộc khủng hoảng kế tiếp?