Tệ hơn ở Nhật Bản: Khủng hoảng già hóa dân số ở Trung Quốc là ‘vô phương cứu chữa’

Giúp NTDVN sửa lỗi

Để tự cứu mình khỏi cuộc khủng hoảng già hóa dân số, Trung Quốc, một là sẽ cần nhiều lao động trẻ hơn. Hai là, những lao động hiện tại cần được đào tạo để nâng cao học vấn và năng suất. Cả 2 chính sách này đều rất tốn kém và cần nhiều thập kỷ mới cho ra kết quả.

Bài viết này là phần 2 thuộc loạt bài gồm 2 phần: Trung Quốc và Nhật Bản chật vật đối phó với cơn địa chấn dân số già. Mời quý độc giả đọc phần 1: Khủng hoảng già hóa dân số sẽ là đòn đánh quyết định hạ gục nền kinh tế Trung Quốc.

Bãi bỏ chính sách một con đã không thể làm dịu tình trạng lão hóa dân số

Năm 2016, đối mặt với tình trạng lão hóa dân số và lực lượng lao động suy giảm, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã bãi bỏ chính sách một con. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đẻ đã không bùng nổ như mong đợi của giới chức trách Bắc Kinh.

Các cặp vợ chồng trẻ ở Trung Quốc khó có thể sinh nhiều hơn một người con bởi chi phí nuôi dạy và giáo dục một đứa trẻ ở Trung Quốc quá cao. Tại Thượng Hải, một căn hộ hai phòng ngủ đã qua sử dụng có thể bán với giá hơn 1,5 triệu USD. Trong khi đó, mức lương trung bình hàng tháng của người lao động chỉ là 1.700 USD; mức lương tối thiểu là 374 USD. Tỷ lệ chi phí sinh hoạt trên giá nhà ở hiện ở mức cao ngất ngưởng. Do vậy, hầu hết các cặp vợ chồng mới kết hôn đều rất khó khăn để ‘sinh tồn’. Nếu không có sự hỗ trợ của cha mẹ và ông bà thì họ hoàn toàn không thể có từ 2 con trở lên.

Năm 2020, chỉ có 12 triệu trẻ sơ sinh được sinh ra ở Trung Quốc. Đây là tỷ lệ sinh thấp nhất kể từ năm 1978. Đứng trước thách thức này, ĐCSTQ tuyên bố sẽ cho phép các cặp vợ chồng sinh 3 con. Chính sách này được đánh giá là sẽ không mang lại hiệu quả trong việc kiềm chế khủng hoảng nhân khẩu học; bởi các vấn đề bất cập như trong chính sách 2 con trước đây vẫn luôn tồn tại.

Sự tăng trưởng vượt bậc của Trung Quốc phần lớn đến từ sự chuyển dịch lao động từ nông thôn lên thành phố. Việc đô thị hóa nhanh chóng đã thúc đẩy GDP. Khi người dân rời trang trại và đến làm việc trong các nhà máy, thì đóng góp của họ vào GDP sẽ tăng gấp đôi. Tuy nhiên, hiện nay, 64% dân số Trung Quốc đã tham gia vào quá trình đô thị hóa. Do đó, quốc gia này sẽ không còn cơ hội chứng kiến những bước nhảy vọt về GDP dựa trên sự di cư từ nông thôn ra thành thị.

Khủng hoảng già hóa dân số sẽ là đòn đánh quyết định hạ gục nền kinh tế Trung Quốc, khủng hoảng nhân khẩu học ở Trung Quốc và Nhật Bản, khủng hoảng già hóa dân số, khủng hoảng về dân số già, khủng hoảng chưa giàu đã già ở Trung Quốc, nguồn lao động lớn tuổi, cơn địa chấn khủng hoảng dân số, Trung Quốc bất lực trước thách thức dân số già, Nhật Bản và Trung Quốc suy giảm dân số, lực lượng lao động Trung Quốc đang bị thu hẹp
Công nhân ngoại tỉnh ở Trung Quốc chuẩn bị lên tàu tại ga Thượng Hải trước để về quê nghỉ Tết Nguyên Đán, Thượng Hải, Trung Quốc, hôm 08/02/2007. (Ảnh: Mark Ralston / AFP qua Getty Images)

Khác với Nhật, Trung Quốc tỏ ra bất lực trước thách thức già hóa dân số

Nhìn vào Nhật Bản, có thể giải thích tại sao Trung Quốc không giải quyết nổi khủng hoảng nhân khẩu học.

Nhật Bản và Trung Quốc có các thách thức tương tự nhau khi hai quốc gia này tiến từng nấc thang kinh tế. Cả hai cùng có tốc độ phát triển kinh tế siêu tốc, nợ nần chồng chất, và bong bóng bất động sản. Khi nền kinh tế của họ tăng trưởng chậm lại đáng kể, cả hai đều bàng hoàng nhận ra rằng họ đang phải đối mặt với cơn địa chấn dân số già. Trong khi chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một số bước đi để làm dịu cuộc khủng hoảng thì cho đến nay, ĐCSTQ dường như chưa có bất kỳ kế hoạch nào.

Khi dân số Nhật già đi, chính phủ nước này bắt đầu cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục miễn phí. Trong khi đó, ĐCSTQ lại không triển khai các chính sách tương tự. Một chính sách khác mà Nhật Bản đã áp dụng là thiết kế một chương trình lương hưu quốc gia. Tất cả người lao động Nhật đều được yêu cầu tham gia quỹ hưu trí này.

Hệ số Gini là thước đo thể hiện sự chênh lệch giàu nghèo trong một quốc gia. Giá trị càng cao thì sự chênh lệch càng lớn. Hệ số Gini của Trung Quốc là 46,5; trong khi của Nhật Bản chỉ là 29,9. Ước tính có khoảng 600 triệu người Trung Quốc, tương đương 40% dân số, chỉ kiếm được 1.000 NDT (156 USD) mỗi tháng. Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc hiện ở mức 10.500 USD mỗi năm, hay 875 USD mỗi tháng. Điều này cho thấy rằng một nửa dân số Trung Quốc đang kiếm được nhiều hơn đáng kể so với phần còn lại.

Các thành phố và thị trấn nhỏ của Nhật Bản đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi cho các gia đình sẵn sàng sinh con thứ 3. Các gia đình này sẽ nhận được tiền mặt hàng tháng, được miễn phí mầm non, được tặng ô tô và đôi khi là nhà ở. Trong khi đó, sau khi bãi bỏ chính sách một con, Bắc Kinh hoàn toàn không có khả năng thực hiện các biện pháp tương tự. Kết quả là năm ngoái, tỷ lệ sinh của Nhật đã cao hơn một chút so với Trung Quốc; với 1,369 ca sinh trên một phụ nữ. Trong khi đó, tỷ lệ này của Trung Quốc chỉ là 1,3.

Khủng hoảng già hóa dân số sẽ là đòn đánh quyết định hạ gục nền kinh tế Trung Quốc, khủng hoảng nhân khẩu học ở Trung Quốc và Nhật Bản, khủng hoảng già hóa dân số, khủng hoảng về dân số già, khủng hoảng chưa giàu đã già ở Trung Quốc, nguồn lao động lớn tuổi, cơn địa chấn khủng hoảng dân số, Trung Quốc bất lực trước thách thức dân số già, Nhật Bản và Trung Quốc suy giảm dân số, lực lượng lao động Trung Quốc đang bị thu hẹp
Một tấm biển cổ động chính sách một con có nội dung: “Có ít con hơn, có cuộc sống tốt hơn”, Quảng Tây, Trung Quốc, tháng 05/2017. (Ảnh: Goh Chai Hin / AFP qua Getty Images)

Lực lượng lao động Trung Quốc ngày càng thu hẹp, năng suất lao động khó có thể cải thiện

Hiện tại, tuổi nghỉ hưu của Nhật là 65. Tuy nhiên, chính phủ nước này đang có kế hoạch nâng tuổi nghỉ hưu lên 70. Trong nhiều thập kỷ, tuổi nghỉ hưu ở Trung Quốc là 55 đối với nữ giới và 60 đối với nam giới. Không rõ là ĐCSTQ có nâng tuổi nghỉ hưu lên cao hơn hay không.

Trong thời kỳ đỉnh điểm của suy giảm dân số, lực lượng lao động của Nhật Bản đã mất tới một triệu người chỉ trong một năm. Chưa từng có quốc gia nào có số lượng lao động giảm nhiều như vậy vì bất kỳ lý do gì, ngoài trừ chiến tranh. Tuy nhiên, sự khác biệt đáng kể giữa Trung Quốc và Nhật Bản là: Tuy Nhật Bản có mức tăng trưởng GDP chung thấp nhất trong các nước G-7, thì GDP trên mỗi lao động của nước này lại tăng với tốc độ cao nhất. Điều này có nghĩa là Nhật Bản có khả năng duy trì tăng trưởng GDP với ít lao động hơn.

GDP mỗi giờ làm việc là thước đo năng suất của người lao động. Ở Nhật, trung bình mỗi giờ làm việc đóng góp 41,9 USD vào GDP. Ở Trung Quốc, mỗi giờ làm việc chỉ đóng góp khoảng 15 USD vào GDP. Lực lượng lao động của Trung Quốc làm việc kém hiệu quả hơn của Nhật; và năng suất lao động ở Trung Quốc cũng đang giảm. Năng suất lao động của Trung Quốc giảm mạnh từ năm 2010 - 2011 và duy trì tương đối ổn định cho đến năm 2018. Kể từ đó, năng suất đang đi xuống.

Một cách để tăng năng suất lao động là đẩy mạnh đào tạo. Người lao động được giáo dục tốt hơn có thể làm những công việc giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị, đóng góp nhiều hơn vào GDP. Thông qua tăng cường giáo dục, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, và Hong Kong đã có sự dịch chuyển trên chuỗi giá trị. Các quốc gia và khu vực này đã trở nên giàu có và duy trì được sự giàu có của họ, bất chấp lực lượng lao động đang bị thu hẹp. Tuy nhiên, Trung Quốc có xuất phát điểm thấp hơn nhiều, đặc biệt là so với Nhật Bản. Số năm được đào tạo trung bình của một người trưởng thành ở Trung Quốc là 7,8; trong khi ở Nhật Bản là 12,8.

Chỉ số Phát triển con người của Liên hợp quốc (HDI) được sử dụng để đo lường người dân và năng lực của họ ở các quốc gia khác nhau theo các khía cạnh phi kinh tế. HDI xem xét các yếu tố như chất lượng cuộc sống, vốn kiến ​​thức, và mức sống. Chỉ số HDI cao thể hiện rằng quốc gia đó giàu có và có năng suất lao động cao. Năm 2020, HDI của Nhật Bản là 0,919; trong khi Trung Quốc chỉ đạt 0,761.

Ma trận Nhân khẩu học Kinh tế (Economic Demographic Matrix) phân loại các quốc gia theo độ tuổi và mức độ giàu có. Nhật Bản được xếp vào nhóm ‘già và giàu’; còn Trung Quốc được xếp vào nhóm ‘già và nghèo’. Người dân ở 2 quốc gia này đều đang già đi; nhưng GDP bình quân đầu người ở Nhật đạt hơn 40.802 USD mỗi năm. Ở Trung Quốc chỉ là 10.143 USD.

Cuộc khủng hoảng về dân số già của Trung Quốc sẽ khiến nước này rất khó thoát khỏi xu hướng kinh tế trì trệ. Hầu hết các biện pháp mà Nhật sử dụng để đối phó với lão hóa dân số và vẫn duy trì GDP đều tốn kém và mất nhiều thời gian. So với Nhật tại thời điểm đạt đỉnh cao kinh tế vào năm 1989, phần lớn dân số Trung Quốc hiện nghèo hơn và ít học hơn đáng kể. Chỉ với 70 năm kinh nghiệm điều hành một đất nước và chỉ khoảng 40 năm kinh nghiệm với nền kinh tế thị trường, sẽ rất thú vị để xem ĐCSTQ đưa ra giải pháp nào mà các nước phát triển như Nhật Bản đã không thể làm được.

Bài viết chỉ phản ánh quan điểm của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của NTDVN.

Tác giả Antonio Graceffo đã có hơn 20 năm làm việc tại châu Á. Ông tốt nghiệp Đại học Thể thao Thượng Hải và có bằng MBA của Đại học Giao thông Thượng Hải; và hiện là Giáo sư và nhà phân tích kinh tế Trung Quốc. Ông viết bài cho nhiều phương tiện truyền thông quốc tế. Một số cuốn sách về Trung Quốc của ông gồm: Beyond the Belt and Road: China’s Global Economic Expansion (Đằng sau Vành đai và Con đường: Sự mở rộng kinh tế toàn cầu của Trung Quốc); và A Short Course on the Chinese Economy (Khóa học ngắn hạn về kinh tế Trung Quốc).

Đức Duy

Theo The Epoch Times

Bạn bình luận gì về tin này?



BÀI CHỌN LỌC

Tệ hơn ở Nhật Bản: Khủng hoảng già hóa dân số ở Trung Quốc là ‘vô phương cứu chữa’