Mỹ: Lương thưởng của CEO gấp 200 lần người lao động thông thường

Giúp NTDVN sửa lỗi

Khoảng cách giữa lương thưởng của CEO và người lao động thông thường là một trong những lý do khiến người Mỹ không hài lòng với nền kinh tế.

Theo dữ liệu phân tích của Equilar (Một trang cung cấp thông tin kinh doanh), mức lương thưởng trung bình của một CEO trong khảo sát tại Mỹ là 16,3 triệu USD vào năm 2023, gần gấp 200 lần mức lương thưởng của người lao động thông thường. Sự chênh lệch này một phần là do các khoản thưởng cổ phiếu hào phóng chiếm khoảng 70% tổng gói lương thưởng. Để hiểu rõ hơn: Mức tăng lương thưởng hàng năm lên tới 4.300 USD đối với người lao động, trong khi các CEO được hưởng thêm 1,5 triệu USD.

Theo Viện Chính sách Kinh tế (EPI), mức lương thưởng của CEO đã tăng hơn 1.200% kể từ năm 1978, so với mức tăng lương thưởng chỉ 15% của người lao động thông thường trong thời gian này.

Ông Lawrence Mishel, một thành viên danh dự tại EPI, đưa ra lý do cho sự chênh lệch lớn này:

  • Tỷ lệ thất nghiệp cao
  • Toàn cầu hóa
  • Sự xói mòn của các công đoàn
  • Các tiêu chuẩn lao động thấp
  • Sự gia tăng trong các điều khoản không cạnh tranh và việc thuê ngoài trong nước

Khoảng cách ngày càng lớn này là một trong những lý do khiến người Mỹ không hài lòng với nền kinh tế. “Phần lớn sự tập trung ở đây là lạm phát, điều mà mọi người thực sự cảm nhận được, nhưng họ cảm thấy nỗi đau của lạm phát nhiều hơn vì họ không thấy tiền lương của mình tăng ở mức đủ”, theo bà Sarah Anderson, giám đốc Dự án Kinh tế Toàn cầu tại Viện Nghiên cứu Chính sách.

Theo một cuộc khảo sát của AP, các CEO của các công ty thuộc Chỉ số S&P 500 nhận được gói lương thưởng cao nhất là:

  • Ông Hock Tan của Broadcom Inc., với gói lương thưởng trị giá gần 162 triệu USD
  • ÔNg William Lansing của Fair Isaac Corp. (FICO): 66,3 triệu USD
  • Ông Tim Cook của Apple Inc.: 63,2 triệu USD
  • Ông Hamid Moghadam của Prologis Inc.: 50,9 triệu USD
  • Ông Ted Sarandos, đồng CEO của Netflix: 49,8 triệu USD

Khó khăn của những người thu nhập thấp

Người tiêu dùng có thu nhập thấp đang tụt lại phía sau trong lúc mức lãi suất cao hơn, lạm phát và sự kết thúc của hỗ trợ thời đại đại dịch đang tác động vào cùng một thời điểm đối với hầu hết mọi người. Lãi suất cao hơn ảnh hưởng một cách có chọn lọc. Nếu bạn vay với lãi suất gần bằng 0 trong thời kỳ đại dịch, bạn sẽ không phải chịu mức lãi suất cao nhất trong 4 thập kỷ. Nhưng những người đi vay không đủ điều kiện vay vốn cố định dài hạn hiện đang vay với lãi suất cao hơn nhiều. Lãi suất thẻ tín dụng tăng vọt khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thắt chặt chính sách tiền tệ, từ mức thấp sau đại dịch là 16% lên gần 23% đối với những người đi vay không trả hết số dư thẻ tín dụng của mình mỗi tháng.

Bất kỳ ai muốn mua nhà hoặc ô-tô hiện nay đều phải đối mặt với cả giá cao hơn và lãi suất cao hơn nhiều. Thực tế là, số đơn xin vay để mua nhà trong năm qua rơi vào mức thấp nhất kể từ năm 1995.

Lạm phát gây tổn hại đến các hộ gia đình thu nhập thấp nhiều hơn so với những người giàu có vì những nhu cầu thiết yếu này chiếm tỷ lệ chi tiêu cao hơn nhiều so với thu nhập của họ. Chi phí thực phẩm, năng lượng và tiền thuê nhà tăng cao hơn hầu hết các mặt hàng khác sau đại dịch, chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tiêu dùng của người nghèo.

Cùng nhau, giá cả cao hơn và lãi suất cao hơn đặc biệt gây khó khăn cho những người tiêu dùng trẻ tuổi thu nhập thấp. Một nghiên cứu của Cục Dự trữ Liên bang New York về các khoản vay mua ô-tô cho thấy mức tăng mạnh nhất về số người đi vay không trả nợ xảy ra ở các khu vực có thu nhập thấp.

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng

Sự hào phóng của chính sách tiền tệ và tài khóa đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế để làm giảm tác động của tình trạng đóng cửa kinh tế do đại dịch gây ra, và nó đã tác động tới hầu hết mọi loại tài sản. Trong khi một số khoản kích thích này được sử dụng cho mục đích tiêu dùng và thanh toán hóa đơn, thì số tiền dư thừa cuối cùng lại chủ yếu được đầu tư vào tài sản, làm thổi phồng giá trị trên khắp các loại hình tài sản như cổ phiếu, tiền mã hóa, nhà ở, thậm chí là xe cộ. Những người giàu có sở hữu hầu hết các tài sản này và do đó, được hưởng lợi rất nhiều từ việc giá trị tài sản tăng lên.

Dữ liệu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chỉ ra rằng 1% hộ gia đình giàu nhất ở Hoa Kỳ nắm giữ 32,3% tài sản của cả nước, trong khi 50% hộ gia đình nghèo nhất nắm giữ 2,6%. Cụ thể, nhóm đứng đầu này sở hữu một phần đáng kể tài sản như cổ phiếu, bất động sản và các khoản đầu tư khác. 10% hộ gia đình giàu nhất (bao gồm 1% hộ gia đình giàu nhất) cùng nhau sở hữu 69,8% tổng giá trị tài sản ròng của Hoa Kỳ. Kể từ năm 1990, tỷ lệ tài sản do 1% hộ gia đình giàu nhất nắm giữ đã tăng lên, trong khi tỷ lệ tài sản của các nhóm khác vẫn tương đối ổn định. Đáng chú ý, 0,1% và 1% người giàu nhất đã chứng kiến ​​mức tăng đáng kể nhất về tỷ lệ tài sản trong giai đoạn này.

Ông Lawrence Katz, Giáo sư Kinh tế tại Khoa Nghệ thuật và Khoa học (FAS) của Đại học Harvard, tin rằng khoảng cách giữa 1% người Mỹ giàu nhất và những người Mỹ còn lại dẫn đến quyền lực kinh tế và chính trị không cân xứng và sự chia rẽ về giáo dục ngày càng gia tăng, từ đó nuôi dưỡng sự phân biệt về xã hội.

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng gây ra nguy cơ cho cả xã hội và nền kinh tế:

  • Giảm tính di động trong xã hội. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn làm giảm tính di động trong xã hội. Khi của cải tập trung trong tay một số ít người, những cá nhân có xuất thân thu nhập thấp sẽ khó có thể thăng tiến trên nấc thang kinh tế.
  • Lực lượng lao động trình độ thấp hơn. Khi bất bình đẳng về tài sản gia tăng, khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng trở nên không đồng đều. Lực lượng lao động trình độ thấp hơn phải vật lộn để cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi các kỹ năng và kiến ​​thức chuyên môn.
  • Áp lực chính trị và bất ổn. Bất bình đẳng thu nhập cao hơn cũng có thể dẫn đến căng thẳng chính trị. Sự bất mãn trong số những người bị tụt hậu về mặt kinh tế có thể dẫn đến áp lực thay đổi chính sách, tác động đến các quyết định về thương mại, đầu tư và tuyển dụng.
  • Gánh nặng về sức khỏe và tội phạm. Sự nghèo đói có liên quan đến sức khỏe cộng đồng kém và tỷ lệ tội phạm gia tăng. Những gánh nặng này gây căng thẳng cho các nguồn lực và tác động tiêu cực đến năng suất kinh tế.
  • Mối đe dọa kinh tế toàn cầu. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng không chỉ là vấn đề quốc gia; nó đe dọa đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Nếu bất bình đẳng tiếp tục gia tăng, nó sẽ làm suy yếu sự ổn định và thịnh vượng trên toàn thế giới.

Việc giải quyết những thách thức này đòi hỏi các chính sách và nỗ lực thấu đáo để thúc đẩy công bằng kinh tế và cơ hội cho tất cả mọi người.

Quan điểm và ý kiến ​​được nêu ra là của tác giả. Chúng chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chung và không nên được hiểu hoặc diễn giải là lời khuyến nghị hoặc chào mời. Epoch Times không cung cấp tư vấn về đầu tư, thuế, pháp lý, việc lập kế hoạch tài chính, lập kế hoạch bất động sản hoặc bất kỳ tư vấn tài chính cá nhân nào khác. Epoch Times không chịu trách nhiệm về tính chính xác hoặc tính thời điểm của thông tin được cung cấp.

Theo The Epoch Times

Bảo Nguyên biên dịch

Tác giả Rodd Mann đã đạt được các bằng cấp như MBA, CPA, APICS CPIM và CGMA. Quan điểm của ông về quản lý kinh doanh và tài chính đã được tôi luyện trong suốt 35 năm sự nghiệp, cùng với các buổi nói chuyện và việc giảng dạy. Trọng tâm hiện tại của ông là tư vấn và viết về quản lý tài chính, bao gồm cả cuốn sách mới nhất của ông “Xoay xở trong trạng thái bình thường mới" (Navigating the New Normal).



BÀI CHỌN LỌC

Mỹ: Lương thưởng của CEO gấp 200 lần người lao động thông thường