Nghiên cứu tăng cường chức năng virus của Trung Quốc đang phá vỡ các cơ chế bảo vệ tự nhiên vốn có để ngăn chặn sự lây lan của virus nguy hiểm

Giúp NTDVN sửa lỗi

Chúng ta không sợ hổ trong sở thú vì tin rằng chúng không thể tấn công. Nhưng nếu có ai đó mở cửa lồng thì sao?

Nhiều loại virus có bản chất cực kỳ nguy hiểm nhưng không thể lây nhiễm cho con người. Tuy nhiên, nỗi sợ hãi sẽ nảy sinh khi những loại virus này vượt qua được rào cản giữa các loài.

Điều này có thể xảy ra một cách tự nhiên hoặc thông qua các hoạt động nghiên cứu đầy rủi ro, đặc biệt là nghiên cứu tăng cường chức năng (Gain-of-function - GOF).

GOF là gì?

Giống như tất cả mọi vật chất đều có chức năng, có những gen cụ thể có chức năng cho phép virus lây lan nhanh chóng hoặc gây ra các căn bệnh nghiêm trọng. Nghiên cứu GOF nhắm đến việc đưa các gen mang theo chức năng mới vào virus, tăng cường khả năng lây nhiễm sang vật chủ hoặc tăng cường độc lực của chúng.

Virus có thể có thêm ít nhất ba loại chức năng mới chính yếu như sau:

Nghiên cứu tăng cường chức năng virus thường tăng thêm cho virus các chức năng mới như khả năng lây nhiễm sang người, tăng cường khả năng lây truyền hoặc tăng độc lực. (Illustration by The Epoch Times, Shutterstock)
  • Nghiên cứu GOF Mở rộng Phạm vi Vật chủ cho phép virus lây nhiễm sang các loài mới mà trước đây chúng không thể lây nhiễm. Trong đó, có cả khả năng vượt qua rào cản giữa các loài để lây nhiễm sang người, điều này gây ra rủi ro đáng kể cho sự bùng phát dịch bệnh trên động vật và nguy cơ xảy ra đại dịch. Một bài báo trên tạp chí Nature Medicine năm 2015 có đưa ra một ví dụ rất thích hợp: Một loại virus Corona tương tự SARS có nguồn gốc từ dơi, ban đầu không lây nhiễm sang người, nhưng đã có thêm khả năng này sau khi nghiên cứu GOF được tiến hành tại Viện Virus học Vũ Hán (WIV) của Trung Quốc.
  • Nghiên cứu GOF Tăng cường Lây truyền mang lại cho virus khả năng lây lan hiệu quả hơn giữa các vật chủ. Nó cho phép virus lây truyền qua các con đường mới hoặc còn nguy hiểm hơn nữa, là qua chính các con đường hiện có. Năm 2012, nghiên cứu GOF tại Đại học Wisconsin-Madison đã gây biến đổi một cách đáng kể virus cúm gia cầm H5N1. Mặc dù, ban đầu không có khả năng lây truyền qua đường không khí, nhưng nó đã có được khả năng này. Sự việc này chứng tỏ tác động sâu sắc của các nghiên cứu GOF đối với khả năng của virus.
  • Virus Gia tăng Độc lực có thể đạt được các đột biến khiến chúng trở nên mạnh hơn, nghĩa là có thể gây bệnh nghiêm trọng hơn cho vật chủ bị nhiễm bệnh. Kỹ thuật này có thể liên quan tới việc nâng cao khả năng lẩn tránh hệ miễn dịch hoặc tăng tốc độ sao chép trong vật chủ của virus. Một bản thảo năm 2022 cho thấy các nhà nghiên cứu tại Đại học Boston đã tạo ra một phiên bản gây chết người của biến thể Omicron.

GOF cũng có thể được sử dụng để tạo ra những đặc điểm tích cực ở vi khuẩn. Ví dụ, bằng cách thêm gen insulin của người, vi khuẩn sẽ có được chức năng mới là sản xuất insulin.

Quan ngại về các nghiên cứu GOF

Vì gen của virus tương đối dễ chỉnh sửa, cho nên các nghiên cứu GOF thường sử dụng virus. Tuy nhiên, một số nghiên cứu dạng này tiềm ẩn những rủi ro đáng kể và có thể dẫn đến những hậu quả thảm khốc.

Ban Cố vấn Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ về An toàn Sinh học (NSABB) đã định nghĩa mối lo ngại đối với nghiên cứu GOF như là một “nghiên cứu có thể được tiên đoán một cách chính đáng là sẽ tạo ra mầm bệnh có khả năng gây đại dịch”. Mầm bệnh được đặc trưng bởi hai thuộc tính:

  • Có khả năng lây truyền cao, khả năng lây lan rộng rãi và không thể kiểm soát được trong cộng đồng người
  • Có độc lực cao và có khả năng gây bệnh và/hoặc tử vong đáng kể cho con người

Nếu vô tình được giải phóng từ phòng thí nghiệm vào cộng đồng nói chung, những mầm bệnh như vậy có thể gây ra những mối nguy hiểm không thể kiểm soát. Ngoài ra, ứng dụng quân sự của GOF là nằm trong phạm vi đe dọa vũ khí sinh học.

Các phương pháp của GOF thường liên quan tới nghiên cứu chỉnh sửa gen, trong đó bao gồm sửa đổi trực tiếp gen của virus và tái tổ hợp gen. Tái tổ hợp gen là việc kết hợp vật liệu di truyền từ các chủng virus khác nhau để tạo thành các biến thể mới.

Trên thực tế, phạm vi nghiên cứu của GOF có thể rộng hơn rất nhiều. Do tính chất biến đổi và thích nghi cao của các gen virus, ngay cả hoạt động nuôi cấy virus thường qui trong tế bào hoặc động vật cũng có thể dẫn đến những thay đổi di truyền không mong đợi.

Con dao hai lưỡi

Các nhà khoa học thường tiến hành nghiên cứu GOF để tìm hiểu về virus và phát triển thuốc hoặc vaccine.

Trong khi những lý do này nghe có vẻ hợp lý về mặt khoa học thì các cuộc tranh luận lại chủ yếu tập trung vào rủi ro và lợi ích giả định. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu GOF có thể hỗ trợ nghiên cứu cơ chế của virus và cung cấp những hiểu biết sâu sắc để phát triển thuốc hoặc vaccine. Tuy nhiên, những rủi ro liên quan là rất lớn, đặc biệt là khả năng tạo ra các mầm bệnh nguy hiểm.

Một thập kỷ trước, hai nghiên cứu được công bố về virus cúm gia cầm, thực hiện bởi một phòng thí nghiệm của Hoa Kỳ và một phòng thí nghiệm của Hà Lan, đã làm nổ ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt.

Cả hai nghiên cứu đều được thiết kế để hiểu rõ hơn về việc làm cách nào có thể sửa đổi gen của virus để khiến chúng dễ lây truyền hơn ở động vật có vú. Mục tiêu là giúp cho mọi người được chuẩn bị tốt hơn cho một đại dịch có nguy cơ xảy ra trong tương lai.

Thật bất ngờ, sau khi cả hai nhóm nghiên cứu đã chỉnh sửa, trong hoàn cảnh hoàn toàn riêng biệt, gen của một virus cúm gia cầm H5N1 chết người, họ đã tạo ra những chủng mới có khả năng lây lan dễ dàng giữa các loài động vật có vú thông qua các giọt nhỏ trong không khí.

Con virus được chỉnh sửa có thể lây lan dễ dàng hơn giữa các loài động vật có vú, và tương tự cũng dễ truyền sang người hơn.

“Tại sao các nhà khoa học lại cố tình tạo ra một dạng virus cúm gia cầm H5N1 có khả năng lây truyền cao sang người?”. Câu hỏi quan trọng này đã được nêu ra trong một bài báo trên tạp chí Nature vào năm 2012.

Sau đó, vào tháng 10 năm 2014, chính quyền Hoa Kỳ đã thông báo “tạm dừng” tài trợ cho 18 nghiên cứu GOF liên quan đến virus cúm, MERS hoặc SARS.

Sự tạm dừng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Năm 2018, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ và Cơ quan Y tế Hà Lan đã phê duyệt tài trợ cho nghiên cứu tiếp theo của GOF, và lại làm dấy lên một làn sóng phản đối. Nhà dịch tễ học Marc Lipsitch của Đại học Harvard bày tỏ mối lo ngại trong một Bài báo khoa học, nói rằng các nhà khoa học đang bị yêu cầu phải “tin tưởng vào một quy trình hoàn toàn không rõ ràng, trong đó, kết quả là cho phép các thí nghiệm nguy hiểm được phép tiếp tục”.

Cuối cùng, sau khi nhượng bộ trước áp lực của công chúng, các nhà điều tra của hai nghiên cứu đã từ chối gia hạn các khoản tài trợ ban đầu được đệ trình cho nghiên cứu GOF của họ. Hệ quả là, các nghiên cứu GOF về cúm gia cầm đã chính thức bị dừng ở Hoa Kỳ vào năm 2020.

Tại Hoa Kỳ và hầu hết các nước châu Âu, nơi các nhà khoa học có thể bày tỏ ý kiến ​​​​trái chiều của mình, việc phát triển các thí nghiệm GOF phải đối mặt với nhiều rào cản pháp lý và đánh giá đạo đức.

Tuy nhiên, ở các quốc gia không có rào cản này, việc theo đuổi nghiên cứu GOF có thể được tiến hành mà không bị kiểm soát. Chúng có khả năng khiến thế giới gặp rủi ro đáng kể.

image-5675315
Các công nhân đứng bên cạnh một chiếc lồng có chuột, nằm bên trong phòng thí nghiệm BSL-4 ở Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc, vào ngày 23 tháng 2 năm 2017. (Johannes Eisele/AFP via Getty Images)

Nghiên cứu GOF trên cúm gia cầm của Trung Quốc

Các nghiên cứu GOF trên virus cúm gia cầm đầy rủi ro của Trung Quốc đã được tiến hành từ những năm 2010.

Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science vào tháng 5 năm 2013, một nhóm các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu thú y Cáp Nhĩ Tân ở Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc, đã tiến hành nghiên cứu tăng cường chức năng bằng cách kết hợp virus cúm gia cầm H5N1 có khả năng gây chết người cao nhưng không dễ lây truyền, với chủng cúm lợn H1N1 rất dễ lây lan, đã từng lây nhiễm cho hàng triệu người vào thời điểm năm 2009 trước đó.

Sau đó, các virus lai tạo đã được thử nghiệm khả năng lây nhiễm sang động vật có vú. Điều này cho thấy những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến các thao tác di truyền như vậy được tiến hành trên mầm bệnh. Nghiên cứu này nhấn mạnh bản chất hai mặt của các nghiên cứu tăng cường chức năng, nêu bật cả tiềm năng cung cấp thông tin chuẩn bị cho đại dịch cũng như những mối lo ngại đáng kể về an toàn và an ninh sinh học mà chúng gây ra.

Kết quả là, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một loại virus mới độc hại hơn. Một chủng lai H5N1, tích hợp các gen lây truyền của virus H1N1, có khả năng lây lan dễ dàng giữa các cá thể chuột lang thông qua các giọt nhỏ hô hấp.

Vào năm 2021, một dự án hợp tác có sự tham gia của các nhà nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Trung Quốc đã tìm cách tăng cường giám sát và sản xuất vaccine. Mặc dù không được công bố rõ ràng là nghiên cứu GOF, nhưng những thí nghiệm này được thực hiện trong phòng thí nghiệm của Trung Quốc, có liên quan đến các hoạt động chỉnh sửa gen điển hình của nghiên cứu GOF.

Các thí nghiệm đã sử dụng một phương pháp nghiên cứu virus thông thường trong phòng thí nghiệm, được gọi là “cấy truyền nối tiếp”, trong đó virus được cấy truyền từ môi trường tế bào hoặc mô hình động vật này sang môi trường tế bào và mô hình động vật khác. Các đột biến của virus có khả năng lây truyền hoặc gây bệnh cao hơn thường có thể được phân lập từ trong quá trình này. Các mô hình động vật cũng được lựa chọn kỹ càng để tái tạo virus cho các mục đích nghiên cứu cụ thể. Chúng tôi đã giải thích chi tiết điều này trong một bài viết trước đây.

Tuy nhiên, các nghiên cứu GOF được biết đến rộng rãi nhất chính là các nghiên cứu về virus Corona, thực hiện ở Trung Quốc.

Phá vỡ rào cản lây nhiễm khác loài

Dơi được biết đến là ổ chứa hoặc vật mang mầm bệnh tự nhiên của nhiều loại virus. Các loại virus Corona lưu hành trên loài dơi thường chỉ lây nhiễm cho dơi hoặc động vật hoang dã chứ không lây nhiễm cho con người. Tuy nhiên, tình trạng này đã thay đổi với sự ra đời của nghiên cứu GOF.

Vào năm 2015, một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu GOF trên virus Corona từ dơi tại WIV, trực thuộc Viện Khoa học Trung Quốc.

Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã lấy gen tạo ra protein gai — cấu trúc hình gai trên bề mặt virus — từ một loại virus tương tự SARS ở dơi và đưa nó vào vật liệu di truyền của virus SARS, loại virus gây ra đại dịch đầu tiên của thế kỷ này.

Loại virus tương tự SARS mới được tạo ra, có mã là SCH-014-MA15, có thể lây nhiễm vào các tế bào đường hô hấp của con người và có khả năng lây truyền tương tự như virus SARS. Nó cũng có khả năng lây nhiễm sang động vật có vú, ví dụ như chuột và gây ra được bệnh phổi.

WIV đã tạo ra một loại virus khảm, nguyên ban đầu không lây nhiễm sang người, nhưng đã đạt được khả năng mới có thể lây nhiễm tế bào người. (Illustrated by The Epoch Times, Shutterstock)

WIV cũng đã tiến hành các nghiên cứu GOF khác trên các loại virus tương tự SARS ký sinh trên loài dơi và đã thu được hiệu quả.

Theo một báo cáo của NIH bị rò rỉ năm 2014, các nhà nghiên cứu WIV đã thử nghiệm một loại virus Corona tự nhiên ở dơi có khả năng liên kết với thụ thể ACE2 của con người, làm tăng đáng kể năng lực của nó. Họ đã sử dụng loại virus dơi này để tạo ra ba loại virus Corona khảm (đã được gắn thêm gen) mới.

Kết quả cho thấy, trong phổi của chuột, những loại virus Corona mới được tạo ra này có khả năng nhân lên với mức độ lớn hơn rất nhiều – lớn hơn tới 10.000 lần so với loại virus ban đầu.

Giữa Ngày thứ 2 và Ngày thứ 4 sau khi bị nhiễm bệnh, ba loại virus từ nghiên cứu GOF tại WIV sinh ra tải lượng virus trong mô phổi của những con chuột được gắn gen hACE2 (của người) cao hơn khoảng 10.000 lần so với virus bình thường. Biểu đồ minh họa sự khác biệt đáng kể về tải lượng virus, được mô tả bằng các hình khối vuông. (Illustrated by The Epoch Times)

Ngoài ra, trọng lượng của những con chuột bị nhiễm bệnh bị giảm đi nhanh chóng, đặc biệt là với một chủng virus mới, SHC014, cho thấy rằng loại virus đã bị biến đổi này có khả năng gây bệnh nghiêm trọng. Trọng lượng cơ thể thường được sử dụng làm dấu hiệu đánh giá tình trạng sức khỏe ở chuột.

Trong khi đó, một loại virus mới khác là WIV-16, không làm giảm trọng lượng chuột, có thể cho thấy tình trạng nhiễm trùng không có triệu chứng.

Các virus thu được từ nghiên cứu GOF tại WIV đã gây ra sự sụt giảm đáng kể về trọng lượng cơ thể của những con chuột mang gen hACE2 người. (Illustrated by The Epoch Times)

Sự giám sát lỏng lẻo

Nhiều phòng thí nghiệm ở Trung Quốc nghiên cứu các mầm bệnh nguy hiểm, nhưng sự thiếu minh bạch về an toàn công cộng khiến việc đánh giá cách quản lý của các phòng thí nghiệm này trở nên khó khăn.

Trong khi các loại virus lành tính vẫn tồn tại thì hầu hết các loại virus gần gũi với con người đều là loại nguy hiểm. Khi các nhà khoa học xử lý các loại virus nguy hiểm trong phòng thí nghiệm, có khả năng xảy ra các động tác sai sót hoặc sự cố rò rỉ, mang đến rủi ro an toàn đáng kể cho các nhà nghiên cứu và người dân ở xung quanh.

Để bảo vệ sự an toàn của con người, các quy định an toàn sinh học đã được thiết lập để quản lý các phòng thí nghiệm. Có bốn cấp độ an toàn sinh học (BSL), trong đó các phòng thí nghiệm cấp độ BSL-3 và BSL-4 có thể xử lý các loại virus nguy hiểm nhất.

Theo một báo cáo điều tra năm 2021 được công bố trên Tạp chí Luật và Khoa học sinh học, Trung Quốc có 48 phòng thí nghiệm cấp BSL-3 và một phòng thí nghiệm BSL-4 đầu tiên tại Vũ Hán (WIV). Trung Quốc vẫn đang có kế hoạch tăng số lượng phòng thí nghiệm cấp BSL-4 lên 5 đến 7 cái vào năm 2025.

Mặc dù các phòng thí nghiệm Trung Quốc thường có trang bị kỹ thuật tốt, nhưng có một thách thức to lớn mà họ đang phải đối mặt đó là các quy định an toàn sinh học tương đối lỏng lẻo. Một số sự cố rò rỉ xảy ra tại các phòng thí nghiệm BSL-3 và BSL-4 ở Trung Quốc đã được ghi nhận.

Năm 2004, một phát ngôn viên của Tổ chức Y tế Thế giới tại Bắc Kinh, Bob Dietz, đã báo cáo rằng virus SARS đã hai lần thoát ra khỏi Viện Virus học Trung Quốc ở Bắc Kinh, cơ quan này liên kết với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc (CDC).

Vào tháng 7 và tháng 8 năm 2019, một cơ sở vaccine do chính phủ điều hành ở Lan Châu đã xảy ra sự cố rò rỉ, khiến vi khuẩn Brucella lây lan qua đường khí dung đến các cá nhân và cộng đồng lân cận.

Vi khuẩn Brucella dễ dàng bị bay hơi và có thể gây ra bệnh sốt rét lợn (brucellosis), một bệnh phổ biến ở vật nuôi, có thể gây bệnh mãn tính hoặc tử vong cho người.

Sau vụ rò rỉ đó, vào tháng 9 năm 2020, ủy ban y tế chính quyền Lan Châu xác nhận rằng ít nhất 3.245 người đã bị nhiễm bệnh. Nhưng theo Theo Global Times, một tổ chức tin tức thuộc sở hữu của chính quyền Trung Quốc, đến tháng 12 năm 2020, số trường hợp nhiễm bệnh được xác nhận đã tăng lên đến 10.528.

WIV được xây dựng vào năm 2003, cùng thời điểm với đợt bùng phát dịch SARS ở Trung Quốc. Các dự án đang tiếp diễn tại WIV bao gồm các nghiên cứu về những loại virus sau:

  • SARS
  • COVID-19
  • Ebola: một loại virus gây chảy máu nghiêm trọng, suy nội tạng, dẫn đến tử vong
  • West African Lassa: một loại virus nguồn gốc từ chuột có thể lây sang người và gây tử vong
  • Sốt xuất huyết Crimean-Congo: một loại virus gây chết người do ve đốt gây ra, ảnh hưởng đến vật nuôi và có thể truyền sang người

Các hoạt động bí mật tại WIV được cho là bao gồm nghiên cứu GOF sâu rộng cho mục đích quân sự. Ứng dụng quân sự của nghiên cứu GOF, còn được gọi là nghiên cứu lưỡng dụng, thu hút sự quan tâm rất lớn.

Báo cáo Biolabs của Vương quốc Anh năm 2023 đã đánh giá sự giám sát theo luật định đối với nghiên cứu lưỡng dụng. Trung Quốc đạt điểm 0/10 trong đánh giá thực hiện nghiên cứu GOF vì mục đích quân sự. Điểm thấp hơn cho thấy quy định an toàn kém hơn.

image-5676971
Phòng thí nghiệm cấp độ BSL-4 trong khuôn viên Viện Virus họ Vũ hán, Trung quốc. (Hector Retamal/AFP via Getty Images)

‘Lý thuyết cái thùng gỗ’

Bản chất đầy rủi ro của nghiên cứu GOF khó có thể thuyết phục được những người có lý trí hoặc các nhà hoạch định chính sách ủng hộ nó dưới danh nghĩa phát triển thuốc hoặc vaccine. GOF không phải là phương pháp duy nhất hay cách hiệu quả nhất để bảo vệ con người và ngăn chặn các đại dịch trong tương lai.

Có rất nhiều bằng chứng khoa học ủng hộ các phương pháp có chi phí thấp và dễ tiếp cận hơn có thể tăng cường khả năng miễn dịch của con người nhằm chuẩn bị cho một đại dịch do virus hoặc vi khuẩn gây ra. Những phương pháp này bao gồm uống vitamin D và các chất bổ sung khác, duy trì chế độ ăn uống cân bằng, tập thể dục thường xuyên, tập thiền và duy trì trạng thái tinh thần khỏe mạnh.

Thực hiện theo những phương pháp này có thể tăng cường khả năng miễn dịch tự nhiên, giúp mọi người tự bảo vệ mình tốt hơn trước các mầm bệnh. Ví dụ, những người có khả năng miễn dịch mạnh mẽ và cân bằng sẽ ít bị ảnh hưởng bởi virus cảm lạnh hơn và có thể phục hồi nhanh chóng nếu bị nhiễm bệnh.

Mặt khác, những người có khả năng miễn dịch yếu hoặc không cân bằng sẽ dễ bị viêm phổi hơn và thậm chí còn có thể cần được chăm sóc y tế khẩn cấp.

Hơn nữa, còn có những cách ít rủi ro hơn để phát triển thuốc và vaccine.

Để tăng cường an toàn cho cộng đồng, vào tháng 1 năm 2023 NSABB đã đưa ra dự thảo hướng dẫn, giới thiệu một sự giám sát chặt chẽ hơn đối với nghiên cứu GOF ở Hoa Kỳ.

Trong phiên điều trần quốc hội Hoa Kỳ gần đây vào ngày 18 tháng 6 năm 2024, liên quan đến nguồn gốc của SARS-CoV-2, đã có cuộc tranh luận lớn về định nghĩa như thế nào là dữ liệu có giá trị chứng minh “nguồn gốc liên quan đến phòng thí nghiệm”. Tuy nhiên, vẫn có sự đồng thuận ở một số điểm chính:

  • Hoa Kỳ không nên tài trợ cho bất kỳ nghiên cứu nào của GOF.
  • Hoa Kỳ không nên hỗ trợ tài chính cho các phòng thí nghiệm không tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn sinh học quốc tế.
  • Dù từ chợ tươi sống hay phòng thí nghiệm Vũ Hán, Trung Quốc đều phải bị khiển trách. Sự minh bạch hoàn toàn và trách nhiệm giải trình của những người làm việc trong WIV là điều cần thiết.

Ngoài Hoa Kỳ, các cơ quan quản lý ở các quốc gia lớn khác, bao gồm Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA)Cơ quan Y tế Công cộng Canada, cũng bày tỏ mối quan ngại về các nghiên cứu GOF.

Trung Quốc hiện giữ vị trí của thanh gỗ thấp nhất của “thùng gỗ” về độ an toàn nghiên cứu GOF virus trên Thế giới. (Illustrated by The Epoch Times)

Vào năm 2022, một bài báo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu từ Nhật Bản và Vương quốc Anh đã đánh giá lại nhu cầu nghiên cứu các mầm bệnh có khả năng gây đại dịch. Họ đã kết luận rằng “những rủi ro của các nghiên cứu dạng này đã trở nên rõ ràng hơn trước, trong khi lợi ích của nó lại dường như trở nên ít rõ ràng hơn”.

Tuy nhiên, các nghiên cứu nguy hiểm như vậy vẫn đang được tiến hành ở Trung Quốc. Chúng bao gồm việc tạo ra các loại virus mới giống SARS, sử dụng các loại virus liên quan đến SARS để nghiên cứu sự lây truyền chéo giữa các loài và phân lập nhiều hơn các loại virus phụ thuộc thụ thể ACE2 đến từ loài dơi.

Nghiên cứu hiện đang được các phòng thí nghiệm Trung Quốc thực hiện bao hàm một nguy cơ đáng kể tạo ra nhiều loại virus hoặc mầm bệnh nguy hiểm hơn và có nguy cơ để rò rỉ ra môi trường.

Điều này tương tự như “lý thuyết thùng gỗ”, minh họa rằng sức chứa của thùng không được xác định bởi những thanh gỗ dài nhất mà bởi những thanh gỗ ngắn nhất. Nói cách khác, dung lượng của nó được xác định bởi thành phần yếu nhất.

Trong bối cảnh an toàn toàn cầu, điều quan trọng là phải duy trì các tiêu chuẩn nghiêm ngặt ở các quốc gia có quy định chặt chẽ và giải quyết những thiếu sót ở những quốc gia có tiêu chuẩn đạo đức y tế thấp nhất và quy định tối thiểu. Nghiên cứu GOF có rủi ro cao làm tăng nguy cơ xảy ra thảm họa toàn cầu.

Theo Yuhong Dong, The Epcoh Times
Quân Dương biên dịch

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là ý kiến của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times. Epoch Health hoan nghênh các cuộc thảo luận chuyên môn và tranh luận thân thiện. Để gửi ý kiến, vui lòng làm theo những hướng dẫn này và gửi qua biểu mẫu của chúng tôi tại đây.

 



BÀI CHỌN LỌC

Nghiên cứu tăng cường chức năng virus của Trung Quốc đang phá vỡ các cơ chế bảo vệ tự nhiên vốn có để ngăn chặn sự lây lan của virus nguy hiểm