Những câu chuyện kỳ lạ ở quê tôi thời thơ ấu

Giúp NTDVN sửa lỗi

Tôi sinh ra vào đêm trước Cách mạng Văn hóa, thời điểm mà nền văn hóa 5.000 năm của Trung Hoa bị phá hủy gần như hoàn toàn. Kể từ khi tôi có thể nhớ, tôi đã nhìn thấy những lá cờ vấy máu ở khắp mọi nơi, những áp phích và khẩu hiệu có chữ lớn dán trên tường, những cuộc họp đấu tố và diễu hành đẫm máu trên các đường phố và ngõ hẻm. Đôi khi vào nửa đêm, chỉ cần Mao Trạch Đông ban hành chỉ thị cấp cao nào đó, người dân sẽ đứng dậy đánh cồng chiêng, trống ra đường để diễu hành, hò hét, ăn mừng, ai không tham gia sẽ trở thành mục tiêu của cách mạng bạo lực.

May mắn thay, tôi lớn lên ở vùng nông thôn, nền văn hóa Thần truyền 5.000 năm và các quan niệm Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vẫn còn in sâu trong tâm trí những người lớn tuổi ở nông thôn. Những gì tôi nghe, chứng kiến ​​và trải nghiệm trong cuộc sống đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn con đường sống cho tương lai của tôi.

Khi tôi còn nhỏ, do sức khỏe yếu và công việc bận rộn nên mẹ đã gửi tôi cho người thân duy nhất của bà là chị gái ở quê chăm sóc nuôi dưỡng.

Dì tôi đã chăm sóc mẹ tôi và tôi rất chu đáo. Dượng tôi cũng là một người nông dân rất giản dị và tốt bụng. Dì và dượng chỉ có một đứa con trai hơn tôi 8 tuổi. Dượng rất vui khi tôi đến và coi tôi như con ruột của mình. Dì tôi thậm chí còn coi tôi như một viên ngọc quý. Mặc dù dì và dượng là nông dân, mù chữ nhưng trong xương cốt và trái tim họ vẫn là dòng máu văn hóa truyền thống. Và cả hai đều là những người tín Thần.

Vào thời điểm đó, nông dân Trung Quốc bị bóc lột nặng nề. Dù năm nào họ cũng làm việc chăm chỉ và sống ở vùng đồng bằng màu mỡ, năm nào họ cũng được mùa bội thu, tuy nhiên, toàn bộ số số nông sản của họ sau một năm lao động cực nhọc đã bị chính quyền cướp đi dưới danh nghĩa phân phát lương thực công cộng, chỉ để lại một khẩu phần ăn ít ỏi nên người dân sống trong cảnh rất nghèo khổ.

Ban ngày, dì và dượng tôi đến tổ sản xuất làm ruộng, còn tôi ở nhà chơi với anh họ. Ban đêm, dưới ánh đèn dầu, dì tôi thường ngồi xếp bằng trên giường, xe bông, khâu đế giày hoặc khâu vá. Tôi và anh họ nằm trên giường, nghe dượng tôi kể chuyện, kể chuyện cười, thỉnh thoảng dì cũng hùa vào.

Dượng tôi có giọng hát hay và từng là ‘diễn viên chính’ trong đoàn kịch của làng. Mặc dù kịch truyền thống bị chỉ trích là “phong kiến, tư bản và chủ nghĩa xét lại” trong Cách mạng Văn hóa và không được phép biểu diễn nữa, đoàn kịch đã giải tán nhưng chú vẫn chưa bao giờ quên những câu chuyện trong các vở kịch truyền thống. Dượng kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện như Ngưu Lang Chức Nữ, Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài, Thất Tiên giáng trần, v.v. những câu chuyện về Thần Tiên, về lòng trung thành, hiếu thảo và lòng nhân từ trong văn hóa truyền thống.

Những giá trị truyền thống ấy lặng lẽ thấm vào trong lòng tôi như những cơn gió nhẹ, như những giọt mưa xuân. Tất nhiên, những câu chuyện dượng kể có một số chi tiết khác với những vở kịch ngày nay, chẳng hạn, để ngăn chặn họ yêu nhau và phạm vào điều cấm kỵ, các vị Thần đã lén lấy đi 3 phần hồn của Lương Sơn Bá khi chàng đi học, khiến trí óc chàng trở nên chậm chạp và không thể nhận ra Chúc Anh Đài là một thiếu nữ, vì thế họ vẫn giữ được phẩm hạnh trong sạch. Trong câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ, Chức Nữ không phải là si tình với người trần mà muốn ở lại trần gian. Mà là khi đang tắm, Ngưu Lang đã lén lấy mất Thiên y của Chức Nữ, nên cô không thể về Trời được. Sau khi Thiên y được trả lại, Chức Nữ đã kiên quyết quay về Thiên cung.

Gia đình dì tôi sống bên sông Hô Đà. Lúc bấy giờ ở thượng nguồn chưa có hồ chứa nước. Dòng sông dài mười dặm gợn sóng xanh biếc, thuyền đánh cá xuôi dòng, lúa thơm trải dài bên bờ. Ở các làng ven sông, hầu như làng nào cũng có một ngôi chùa được xây dựng bên bờ sông với tượng Phật. Mục đích là để trấn áp Long vương dưới sông, tránh gây phiền phức và làm hại người dân xung quanh.

Khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu, cả nước đã dấy lên một làn sóng phá hoại văn hóa tâm linh, như đập phá đền miếu, phá hủy Phật tượng, phỉ báng thần linh và Phật Pháp. Ngay cả những miền quê hẻo lánh cũng không tránh khỏi sự tàn phá này.

Khi đó, một số kẻ côn đồ trong làng và một số sinh học sinh trẻ đã tổ chức thành những băng đảng nổi loạn, chúng không chỉ đi đập phá từng nhà, mà còn thiêu hủy các cổ tịch, phá hủy các cổ tự, tượng Phật, miếu đường, bia ký, đền thờ Thành Hoàng và các công trình kiến trúc truyền thống khác.

Vào đêm các ngôi chùa bị phá hủy, người chèo thuyền đánh cá trên sông nghe thấy tiếng gọi từ bờ: “Người chèo thuyền, hãy giúp chúng tôi qua sông”. Người chèo thuyền vào bờ nhưng không có ai, trong tầm mắt anh chỉ nghe thấy tiếng ‘thùm thùm" của người rơi xuống nước và tiếng người lên thuyền. Là người có kinh nghiệm, người chèo thuyền biết rõ những người đó không phải là người phàm nên hỏi: “Quý khách muốn đi đến đâu?”. Có tiếng đáp: "Chỗ này không còn chỗ ở, chúng tôi muốn đến núi Liên Hoa". Phía bờ bên kia sông thuộc Hoạch Lộc (nay là Lộc Tuyền) có núi Liên Hoa, họ muốn trốn tới đó. Khi chèo thuyền, người chèo thuyền thấy thuyền như đầy thứ gì đó, rất nặng, nhưng mà thuyền vẫn trống rỗng.

Mặc dù tất cả các ngôi chùa, đền miếu ở làng đều bị phá hủy, nhưng loa phát thanh của xã vẫn hàng ngày phát những bài hát "Chẳng có vị cứu thế nào, cũng chẳng có thần tiên hoặc hoàng đế, chỉ có chúng ta mới có thể tạo ra hạnh phúc cho loài người" và "Mao Trạch Đông là ngôi sao cứu rỗi của nhân dân" để bắt đầu một phong trào tôn sùng mới. Sách giáo khoa cũng đầy những lời ca tụng dối trá về Mao, xúc phạm và chỉ trích các truyền thống và hiền nhân, chủ nghĩa vô thần và thuyết tiến hóa được sử dụng xuyên suốt để nhồi sọ và tẩy não con người, nhưng những hiện tượng kỳ lạ vẫn xuất hiện trong đời sống lại đang phá trừ những lời nói dối xấu xa này.

Quân nổi dậy không chỉ phá hủy tượng Phật và phá hủy các ngôi chùa mà còn bắt đầu san bằng các ngôi mộ. Khi đó, ở phía tây của làng dì tôi có một nghĩa trang rộng, trong nghĩa trang có rất nhiều cây bách được trồng dày đặc. Những cây bách rất cao và tươi tốt, có cây đã hàng trăm năm tuổi. Ngay khi bước vào nghĩa trang, người ta sẽ cảm thấy một cảm giác kỳ quái và đáng sợ, ngay cả những cậu bé nghịch ngợm nhất cũng không dám tùy tiện chơi đùa ở đó. Những người già trong làng kể rằng có những con quỷ trắng sống trên những cây bách cổ thụ, nếu quấy rầy chúng, chúng sẽ mang đến tai họa cho người dân. Nhưng trong thời đại Quỷ đỏ hoành hành, người dân bị chính quyền tà ác bóp ‘gãy sống lưng’, họ e dè trước sự tàn bạo và uy hiếp của chúng, không ai dám nói ra những lời công đạo.

Bọn phản loạn và Hồng vệ binh với lòng kiêu ngạo muốn chống lại trời, chống lại đất, không tin vào Thần linh, tất nhiên càng không tin vào ma quỷ. Họ lập tức phá hủy các ngôi mộ của tổ tiên, và chặt hết những cây bách cổ thụ. Xương cốt của người chết bị vứt tán ra khắp cánh đồng, đã gây nên họa lớn.

Tượng Phật bị đốt phá trong thời Đại Cách Mạng Văn Hóa. (Epoch Times)
Tượng Phật bị đốt phá trong thời Đại Cách Mạng Văn Hóa. (Epoch Times)

Vào đêm muộn đó, trên các con đường chính của làng vang lên những tiếng gào thét kinh hoàng và thê lương. Dường như có thứ gì đang di chuyển liên tục trên các con đường. Mọi người đều hoảng sợ, trốn trong chăn không dám nhòm ra ngoài. Nhưng cũng có những người dân gan dạ ló đầu quan sát qua khe cửa, họ thấy những thứ trắng xoá, cao khoảng một hai mét chính là những "ma trắng" - đang lượn lờ. Và còn có những thứ đen kịt, như chim, bay lượn trên không trung, phát ra những tiếng hú kỳ lạ "chạy, chạy, chạy". Cảnh tượng này tiếp diễn suốt 4, 5 đêm liền.

Hơn nữa, cũng có những người ban ngày nhìn thấy một cô bé khoảng 3, 4 tuổi lạ mặt ngồi trên mái nhà của gia đình họ, và giọng quát tháo: "Các người đã đuổi ta đi, giờ ta khiến các người không được yên!". Nhiều người đã chứng kiến cảnh tượng này, và không phải chỉ ở một gia đình. Sau đó, có người bắt đầu chết, mỗi ngày đều có người qua đời. Những hộ gia đình mà cô bé nhỏ đó từng đến ngồi trên mái nhà đều có người chết, phần lớn là những người trẻ tuổi - những kẻ đã tham gia phá huỷ tượng Phật, phá miếu mạo và chặt hạ cây bách. Người già trong làng lén lút bàn tán rằng đây là quả báo do chặt hạ cây bách cổ thụ, khiến những linh hồn và ma quỷ không còn chỗ ở, nên họ đang trả thù. Tất nhiên, đó là quả báo mà những kẻ đập phá Phật, phá chùa đáng phải nhận.

Quả báo đời thực này khiến người dân khiếp sợ, đặc biệt là những người đập phá tượng Phật, phá chùa, chặt cây bách và phá mộ. Mặc dù khi bị "ma đỏ" chi phối, họ tỏ ra vô cùng dũng cảm và không sợ hãi, nhưng khi báo ứng ập đến, họ trở nên nhát gan hơn ai hết. Họ hoảng sợ, lo lắng không yên, không biết hắc bạch vô thường sẽ đến lấy mạng ai tiếp theo.

Nhưng bất hạnh rốt cuộc cũng không tha cho những người này. Tất cả những ai từng làm những điều xấu xa này đều chết một cách bí ẩn. Hầu như không ai có thể thoát khỏi thảm họa này.

Sau khi những quả báo này xảy ra, những kẻ lưu manh vốn không tin vào “mê tín” và phát điên trong Cách mạng Văn hóa đã kiềm chế rất nhiều và không còn dám hành động vô lương tâm. Những người có quan niệm truyền thống về thiện ác hữu báo lại bắt đầu tin vào “mê tín”: họ đặt lễ vật và đốt hương tại các nơi từng có tượng Phật. Nhưng trên bàn thờ lại không có tượng Phật, cũng không rõ là người ta thắp hương, quỳ gối lạy điều gì. Một số người thậm chí còn thờ cáo, chồn, quỷ, rắn và những thứ tà ác, coi chúng như thần thánh.

Ngoài ra, mọi người cũng bắt đầu tôn kính trở lại những người được coi là phù thủy, đạo sĩ, thầy bói, thầy phong thủy và những người tu hành theo những phương thức tiểu đạo thế gian trước đây.

Trong làng cạnh nhà dì tôi có một phụ nữ khoảng 50-60 tuổi, người ta gọi bà là "Chị Thành Điên". Mặc dù bà hoàn toàn mù chữ, nhưng lại nổi tiếng là ‘đại thần’ khắp vùng xa gần. Ngôi nhà của bà thường xuyên tấp nập khách khứa, thậm chí có cả những quan chức lớn ở thành phố đến đây bằng xe sang để nhờ bà chữa bệnh, bói toán.

Trước khi Đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền, ở làng quê có rất nhiều người tu hành, với đủ các pháp môn khác nhau, chính tà đều có. Nhưng đa số là tiểu đạo. Lúc bấy giờ, người ta không gọi là "tu luyện" mà gọi là "nhập đạo", mỗi pháp môn được gọi là một "đạo môn". Sau này, trong các phong trào "Tam phản, Ngũ phản" của chính quyền Trung Quốc, hầu hết những đạo môn này đều bị tiêu diệt, bị đàn áp, nhưng văn hóa tu luyện ấy, người dân vẫn không xa lạ.

Mặc dù Cách mạng Văn hóa đã diễn ra mạnh mẽ, nhưng ở nông thôn, những phù thủy, đạo sĩ, thầy bói, thầy xem phong thủy vẫn âm thầm tồn tại. Khi y học hiện đại không thể giải quyết được những căn bệnh nan y, bệnh kỳ quặc, người ta vẫn sẽ tìm đến họ để được giúp đỡ, và họ thường có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Hơn nữa, không ai dám chắc rằng trong đời mình sẽ không gặp phải những bệnh kỳ lạ, nên cần phải tìm đến sự trợ giúp của họ, và cũng không ai muốn bịt kín con đường của mình. Vì vậy, những cán bộ, đảng viên ở làng quê cũng nhắm mắt làm ngơ. Khi cuộc vận động nổ ra, họ chỉ hô hào khẩu hiệu, làm bộ, rồi sau đó lại để mặc những nghề nghiệp này tồn tại ở nông thôn. Đặc biệt là sau khi những người phá đền chùa, chặt cây, phá mộ gặp phải báo ứng, hầu hết mọi người không dám làm điều gì ngông cuồng nữa.

‘Chị Thành điên’ vốn là một người phụ nữ quê mùa tốt bụng và giản dị, nhưng đột nhiên một ngày nọ, bà phát điên không rõ nguyên nhân. Bà đi lang thang và nói những lời điên rồ. Bà không đánh hay chửi ai. Bà không biết nóng lạnh là gì, quanh năm nhếch nhác, chỉ mặc một bộ quần áo, bẩn thỉu và chạy khắp nơi bằng đôi chân trần. Đôi khi bà ngủ trên đống củi, đôi khi bà ngủ trên tuyết và ăn bất cứ thứ gì nhặt được. Bọn con trai nghịch ngợm nhìn thấy bà đều xúm lại gọi ‘Chị Thành điên’, và liên tục ném đất cứng vào bà. Bà cũng không biết tránh, chỉ cười một cách ngốc nghếch. Khi đó, vùng quê rất nghèo, hầu hết người dân không thể nuôi sống bản thân. Làm sao họ còn có tiền để chữa bệnh cho người thân? Hơn nữa, người nhà quê mỗi ngày đều bận rộn với công việc đồng ruộng, vậy thì ai có thời gian để quan tâm đến bà. Cứ để bà chạy điên loạn, mặc cho bà trong điên dại mà tự sinh tự diệt.

Vài năm sau, chứng điên của bà đột nhiên biến mất, bà cũng có một số năng lực đặc biệt và có thể chữa bệnh cho mọi người. Nhiều căn bệnh ‘quỷ quái’, ‘bệnh suy nhược’ không thể chữa trị tại bệnh viện đã được bà chữa khỏi. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là khi có người đến khám chữa bệnh, bà sẽ nói ra nguyên nhân bệnh tật của người này, chẳng hạn: ông đã từng làm điều gì trái đạo đức, người bệnh chết lặng và bị thuyết phục vì những gì bà nói hoàn toàn là sự thật. Bà cũng sẽ cảnh báo bệnh nhân hãy chân thành thay đổi hành vi của mình và đừng tái phạm. Bà chữa bệnh cho bệnh nhân có một đặc điểm là không bao giờ lấy của ai một xu.

Bà cũng nói với mọi người rằng bà vốn là một vị Thần trên Thiên thượng, nhưng bà đã bị đánh xuống phàm trần vì đã vi phạm luật lệ của Thiên đình, do đó bà phải ở lại trần gian để trả hết tội lỗi của mình mới có thể trở về Thiên thượng.

Bà cũng thường xuyên ngất xỉu không rõ nguyên nhân, không biết chuyện gì đã xảy ra với mình, giống như đã chết nhưng cơ thể vẫn mềm mại, một thời gian sau sẽ sống lại. Sau khi tỉnh lại, bà sẽ nói với gia đình rằng mình vừa đi đâu đó trên Thiên thượng.

Một hôm, dưới cánh tay của bà xuất hiện một nốt mụn lớn bằng quả đào. Bà nói rằng, đó là do bà đã lên tham dự buổi tiệc Bàn Đào của Vương Mẫu Nương Nương, và vì đào rất ngon nên bà muốn lấy về một quả để cho gia đình ăn. Vì vậy bà đã lén cầm một quả đặt dưới cánh tay, và khi trở về trần gian thì bị thành ra như vậy. Đa số dân làng đều tin vào những lời bà nói.

Vài năm sau, bà qua đời, có lẽ là bà đã trả hết nghiệp nên đã trở về Trời.

(Còn nữa)

Theo The Epoch Times
Lý Ngọc biên dịch



BÀI CHỌN LỌC

Những câu chuyện kỳ lạ ở quê tôi thời thơ ấu