Tu Bồ Đề - Đại đệ tử Đệ Nhất Giải Không của Phật Đà đạt đến cảnh giới 'Không' như thế nào?

Bình luận Nam Phương • 06:30, 03/11/22

Giúp NTDVN sửa lỗi

[Radio] - Trong tác phẩm “Tây Du Ký”, người thầy đầu tiên dạy Tôn Ngộ Không 72 phép biến hóa là Bồ Đề Sư Tổ. Có người cho rằng, nguyên mẫu của nhân vật này chính là “Giải Không Đệ Nhất” Tu Bồ Đề (tiếng Phạn là Subhūti) – một trong thập đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Điều này cũng không phải là không có lý, vì không ai có thể sánh kịp Tu Bồ Đề về mức độ lý giải cái lý “Không”, có lẽ đây cũng là nguyên nhân ông đặt tên cho con khỉ đá kia là “Ngộ Không”.

Nghe thêm: Radio Văn Hóa

Trong câu chuyện về Phật giáo, ngoài Phật Thích Ca Mâu Ni được Thiên nhân “rải mưa hoa ca tụng” ra, vị đệ tử duy nhất của Đức Phật cũng nhận được vinh dự đặc biệt này chính là Tu Bồ Đề.

Không Sinh

Tu Bồ Đề được sinh ra trong một gia đình trưởng giả giàu có ở thành Xá Vệ, kinh đô của vương quốc Kosala thời Ấn Độ cổ. Ngày ông sinh ra, khi cả gia đình đang vô cùng phấn khởi thì một người hầu chạy tới báo: “Bẩm ngài, vàng bạc châu báu trong kho nhà ta đều biến mất cả!”.

“Hả? Sao lại thế được?” – vị trưởng giả thốt lên.

Đứa trẻ này vừa ra đời thì bao nhiêu vàng bạc châu báu trong nhà liền biến mất. Là điềm lành hay điềm gở đây? Cả gia đình nháo nhào đi tìm nhưng không ai thấy bóng dáng số tài sản ấy đâu.

Trưởng giả vội đi tìm thầy toán mệnh để xem quẻ. Thầy toán mệnh đã liệu trước sự việc, ông lắc lư đầu, vui mừng nói: “Đây là chuyện đại thiện đại cát, tượng trưng cho việc nhà ông sinh được quý tử, tương lai sẽ không bị danh, lợi trong thế gian trói buộc, là người ‘giải không đệ nhất’, hãy đặt tên cho cậu bé là ‘Không Sinh’, hoặc là ‘Thiện Cát’ cũng được”.

Lúc này cả gia đình mới yên tâm sau khi nghe lời thầy tướng nói. Ba ngày sau, vàng bạc châu báu trong nhà họ lại xuất hiện trở lại.

Ba ngày sau khi Tu Bồ Đề sinh ra, số của cải trong nhà lại xuất hiện trở lại. (Pixabay)

Khẳng khái từ bi – Có ai hiểu ta

Tu Bồ Đề sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có như vậy, đương nhiên được cha mẹ vô cùng yêu thương chiều chuộng.

Nhưng ông là người thích làm việc thiện, cha mẹ cho bao nhiêu tiền tiêu, ông đều đưa hết cho người nghèo. Đi trên đường gặp kẻ ăn xin không có áo mặc, ông liền cởi áo choàng tặng cho người ta, khi trở về nhà trên người chỉ còn lớp quần áo mặc lót bên trong. Trông thấy con trai như vậy, cha mẹ ông không kìm nổi cơn giận, đã giáo huấn cho ông một trận.

Nhưng Tu Bồ Đề lại thản nhiên nói: “Trong lòng con cảm thấy hết thảy mọi người trên thế gian đều có mối quan hệ mật thiết với con. Dường như tất cả mọi người đều trong cùng một thân thể với con. Con người khi sinh ra đều trần trụi, tại sao cứ phải chấp vào những thứ quần áo và vật dụng ngoại thân? Tại sao không thể mang đồ của mình cho người khác? Người ta và con có gì khác nhau đâu?”.

Cha mẹ Tu Bồ Đề nghe vậy, biết là không thể thuyết phục được con trai, nên họ đã nhốt ông trong nhà. Thế là hàng ngày Tu Bồ Đề đều ở trong nhà đọc sách. Ông đọc cả vạn cuốn, càng đọc càng thấy: “Nếu như trên đời này không có Thánh nhân đại trí đại giác thì chẳng ai có đủ tư cách để cùng ta đàm luận về tâm cảnh của người đi trên con đường giải thoát, chẳng ai có thể hiểu được thế giới trong tâm ta”.

Thế nhưng, khi Phật Đà tới quê hương của Tu Bồ Đề, mọi chuyện đã thay đổi.

Cha mẹ của Tu Bồ Đề vốn tín phụng Bà La Môn giáo, ấy vậy mà khi Đức Phật tới đây giảng Pháp, họ đã quy y Phật Đà. Sự việc này khiến Tu Bồ Đề vô cùng kinh ngạc.

Cuối cùng, Tu Bồ Đề đã đi tới nơi Đức Phật giảng Pháp. Tu Bồ Đề vẫn luôn cảm thán rằng trên đời này “có ai hiểu ta”, thế nhưng khi lần đầu tiên nghe Phật Đà giảng dạy, ông liền bái lạy trước Phật, xin được xuất gia tu hành.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni tới quê hương của Tu Bồ Đề giảng Pháp, cả gia đình ông đã quy y Phật Đà. (Shutterstock)

Khai ngộ

Trong tăng đoàn, Tu Bồ Đề tu hành vô cùng tinh tấn.

Một hôm, Phật Đà gọi 1.250 đệ tử Thượng tọa bộ tới nghe giảng Pháp. Vào giờ trưa, Ngài cùng chúng đệ tử ra ngoài đi khất thực hóa duyên. Lúc trở về, Đức Phật nhắm mắt tịnh tọa trong tịnh xá Kỳ Viên, các đệ tử cũng ngồi nghỉ ngơi quanh Ngài.

Lúc này, tuy Đức Phật không nói gì nhưng Tu Bồ Đề hiểu được rằng Ngài sắp giảng Pháp, ông liền đứng lên khỏi đám đông rồi tiến lên đảnh lễ với Phật Đà.

Tu Bồ Đề đảnh lễ và hỏi Đức Phật. (Public Domain)
Tu Bồ Đề đảnh lễ và hỏi Đức Phật. (Public Domain)

Vì các đệ tử Thượng tọa bộ đều đã có thể trợ giúp Phật Đà truyền bá Phật Pháp, nên Tu Bồ Đề hỏi Đức Phật rằng: “Bạch Phật Đà, chúng đệ tử đều biết Ngài vô cùng thiện đãi, thương yêu bảo vệ chúng con, nhưng đối với những thiện nam tín nữ kia, muốn để họ đắc được Pháp thì chúng con nên đối đãi với họ bằng tâm thái nào? Làm sao mới có thể áp chế những ý niệm bất chính, hỗn loạn?”.

Phật Đà khen ngợi câu hỏi của Tu Bồ Đề, rồi Ngài giảng đoạn Pháp sau:

Khi bố thí, phải hành ‘vô tướng bố thí’;
Khi độ sinh, phải hành ‘vô ngã độ sinh’.

Câu nói trên nghĩa là gì? Lời Phật Đà nói ra chính là Phật Pháp, đương nhiên có nội hàm rất sâu. Các tăng nhân tu hành đến các tầng thứ khác nhau sẽ có các lý giải khác nhau về Phật Pháp. Điều này đối ứng với tầng thứ của mỗi người, huống hồ là phàm phu tục tử. Cho nên tại đây, chúng tôi chỉ xin chia sẻ một chút lý giải cá nhân.

Đại ý câu nói trên có lẽ là: Khi giúp người khác, đừng mang suy nghĩ ban ơn cho họ, không mưu danh, không cầu lợi, không cầu báo đáp, hoàn toàn là nghĩ cho người khác. Khi độ hóa con người, đừng cho rằng là bản thân đang độ hóa họ, kỳ thực đó là đều là nhờ vào sức mạnh của Phật Pháp.

Câu chuyện trên cùng lời giảng của Đức Phật được viết trong cuốn “Kinh Kim Cương” – cuốn kinh được suy tôn là Vương của kinh sách Phật giáo.

Nghe xong lời giảng Pháp của Phật Đà, Tu Bồ Đề đã có thể ngộ sâu sắc về đạo lý “vô ngã”, lập tức khai ngộ.

Ông vui mừng tới chảy nước mắt, cảm khái nói: “Rời xa hết thảy chấp trước, mới có thể thấy được lý của ‘Không’. Rời xa hết thảy danh và tướng ở bề mặt, mới có thể thấy được nhân sinh. Hôm nay con đã thể hội được tâm ý của Phật Đà, giống như đã thực sự nhận thức được bản thân”.

Nghe Phật kể chuyện, tăng cường tín tâm

Vì để tăng cường tín tâm của Tu Bồ Đề, Phật Thích Ca Mâu Ni đã kể thêm một câu chuyện Ngài từng trải qua trong một đời tu hành trước kia. Phật Đà hồi tưởng:

“Một lần, ta tịnh tọa suy ngẫm dưới một gốc cây đại thụ trong núi sâu, một nhóm nữ tử ăn mặc trang điểm đẹp đẽ đi đến trước mặt ta cười đùa rồi hỏi:

- ‘Này người tu đạo, một mình ông ở đây, lẽ nào không sợ hổ báo sài lang đến làm hại ông sao?’.

- ‘Người có tâm từ bi, độc xà mãnh thú sẽ không tới làm hại. Kim tiền mỹ sắc, chính trị quyền uy hà khắc trong thành thị cũng chính là hổ báo sài lang trong núi’.

Trong một đời khi Phật Thích Ca Mâu Ni đang tu hành trong rừng sâu, một nhóm nữ tử xuất hiện trêu đùa Ngài. (Ảnh chụp màn hình)

Nghe xong những lời này, họ liền thay đổi thái độ, trở nên cung kính, rồi thỉnh cầu ta giảng Pháp cho họ.

Ta hái một bông hoa nhỏ rồi nói: ‘Các cô gái, con người sống trên đời vốn đều là truy cầu niềm vui. Thế nhưng, niềm vui cũng có loại chân thực và loại hư giả, có cái trường cửu và có cái ngắn ngủi. Nhưng con người đều bị những niềm vui hư giả và ngắn ngủi mê hoặc.

Giống như đóa hoa nhỏ này, tuy rằng nở ra rất mỹ lệ, nhưng hương thơm của nó lại không thể vĩnh cửu. Thanh xuân và vẻ đẹp mỹ lệ, sự cường tráng và khỏe mạnh, chúng đều không đủ để dựa dẫm. Điều đáng quý trọng của đời người chính là có thể học Đạo, cầu đắc sự thăng hoa và mở rộng của sinh mệnh, đó mới là đại sự quan trọng’.

Đức Phật giảng: "Giống như đóa hoa nhỏ này, tuy rằng nở ra rất mỹ lệ, nhưng hương thơm của nó lại không thể vĩnh cửu". (Pixabay)

Lúc này, một người mặc trang phục như một vị vương, tay cầm bảo kiếm, từ trong bụi cỏ xông tới trước mặt ta rồi lớn tiếng quát mắng:

- Ngươi là ai, dám trêu ghẹo phi tử của ta?

- Đại Vương, xin hỏi ngài tên là gì? Đừng sỉ nhục người khác như vậy.

- Ngươi đang nằm mơ giữa ban ngày hả? Ca Lợi Vương danh tiếng uy chấn mà người cũng không nhận ra. Chẳng trách ngươi dám to gan mê hoặc cung phi của ta.

- Đại Vương, xin đừng nói vậy. Người tu đạo hành nhẫn nhục, sẽ không mắng chửi lại ngài. Nhưng ngài tạo khẩu nghiệp như vậy, tương lai nhất định không tốt.

- Ngươi hành nhẫn nhục? Để ta phanh thây ngươi xem người còn nhẫn nhục được không!

Sau đó, mắt, tai, mũi, hai tay, hai chân của ta lần lượt bị Ca Lợi Vương chặt đứt. Vì độ chúng sinh, vì lòng từ bi với chúng sinh, khi ấy ta không có chút tâm sân (tức giận) nào hết. Với tinh thần ‘vô ngã độ sinh’, ta dần tích lũy phúc huệ của mình, làm trang nghiêm Phật quả của mình.

Tu Bồ Đề à, kẻ hành ác không thể thắng người khác, chỉ có người hành nhẫn nhục mới là người thắng lợi cuối cùng”.

Nghe xong câu chuyện này, Tu Bồ Đề vô cùng cảm động, ông ngộ ra chân lý “vô ngã”, chứng được “Không Huệ” thâm sâu. Từ đó, ông được tôn xưng là “Giải Không Đệ Nhất”.

Vậy thì thế nào là “Không”?

Người đầu tiên nghênh đón Phật Đà

Không phải dăm ba câu là có thể nói rõ đạo lý về “Không”.

Người ngộ tốt nhất về diệu ý “Không” trong lời giảng của Đức Phật là Tu Bồ Đề, vậy chúng ta hãy xem các biểu hiện của ông để tìm chút khải ngộ về đạo lý “Không”.

Có một lần, Phật Thích Ca Mâu Ni đột nhiên đi ra ngoài, không rõ Ngài đi đâu. “Thiên Nhãn Đệ Nhất” A Na Luật dùng thiên nhãn quan sát, biết được rằng Đức Phật đi đến Đao Lợi Thiên để thuyết Pháp cho mẹ của Ngài là Ma Da Phu nhân, ba tháng sau mới có thể trở lại.

Mọi người đều vô cùng mong nhớ Đức Phật, đệ tử nào cũng mang cảm giác “một ngày không gặp ngỡ ba thu”.

Rất nhanh ba tháng đã trôi qua, Phật Đà quay trở lại nhân gian. Các đệ tử đều tranh lên trước để đón Ngài. Thậm chí, Thần thông đệ nhất trong các tỳ kheo ni là Liên Hoa Sắc còn biến thành hình dáng của Pháp Luân Thánh Vương để có thể thành người đầu tiên gặp được Đức Phật.

Thế nhưng khi quan sát các đệ tử vây quanh mình, Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề, người lúc này đang ngồi trong hang động trên núi Kỳ Xà Quật (tức núi Linh Thứu), mới thực sự là người đầu tiên đón ta”.

Khi quan sát các đệ tử đến đón mình, Đức Phật nói rằng Tu Bồ Đề mới thực sự là người đầu tiên nghênh đón Ngài. (Pixabay)

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, đều nghĩ xem ý của Đức Phật là gì?

Hóa ra, Tu Bồ Đề đang ngồi may y phục trong hang động trên núi Linh Thứu, khi định bỏ công việc xuống để đi đón Phật Đà thì đột nhiên trong tâm ông xuất ra suy nghĩ: “Bây giờ ta đi nghênh đón Phật Đà, rốt cuộc là vì điều gì? Nếu giờ ta đi nghênh đón Ngài thì chính là coi thân thể tại nhân gian của Phật Đà thành Chân Thân của Ngài rồi, mà Pháp Thân của Phật Đà không nơi nào là không có”.

Nghĩ tới đây, Tu Bồ Đề liền cảm thấy Đức Phật đang ở ngay bên cạnh mình, trước giờ chưa từng rời xa. Tu Bồ Đề liền an nhiên ngồi xuống và tiếp tục may vá y phục.

Còn ở bên này, nơi các đệ tử đang quây quần nghênh đón Đức Phật, Ngài thuyết giảng rằng: “Người thấy Pháp mới là người đầu tiên trông thấy Phật Đà, mới là người đầu tiên nghênh đón Phật Đà”.

Khi nghe Đức Phật giải thích, các đệ tử mới hiểu ra.

Trong Phật Pháp, điều Phật Đà coi trọng nhất là sự lý giải thực sự của các đệ tử đối với Phật Pháp, chứ không phải những thứ bề mặt.

Từ đó, Tu Bồ Đề càng được mọi người trong tăng đoàn tôn kính.

A La Hán ly dục đầu tiên

Là một trong thập đại đệ tử của Phật Đà, là một tôn giả khai ngộ, nhưng Tu Bồ Đề lại vô cùng khiêm tốn.

Ông thường nói: “Nếu như có người đứng nói lời bất hảo với ta, ta liền ngồi xuống. Nếu họ khó chịu vì ta ngồi, ta liền đứng cả ngày cho họ xem. Ta tuyệt đối không có chút phiền não nào, tuyệt đối không tức giận với bất kỳ chúng sinh”.

Tu Bồ Đề tu đạo nhưng hàng ngày vẫn làm những điều vì lợi ích của chúng sinh, vô cùng bận rộn. Tuy vậy, ông không mưu cầu danh lợi, thời thời khắc khắc đều ở trong cảnh giới của người giải thoát.

Chỉ có điều, dù là Thánh giả nhưng có khi ông vẫn sẽ phải chịu những lời phỉ báng và chế giễu.

Một hôm, khi Tu Bồ Đề trên đường đi hoằng Pháp, đúng lúc nghe được người khác đang phê bình ông: “Tu Bồ Đề có gì giỏi giang, ông ta chẳng tu hành gì hết. Các vị xem, trong nhóm tỳ kheo, ông ta cứ ngây ngô, chẳng có chút nổi bật nào cả”.

Có câu “Đại trí nhược ngu, đại xảo nhược chuyết”, tức là nếu nói bậc Đại trí ngu ngốc thì những kẻ khôn khéo, mồm miệng nhanh nhảu mới là kẻ ngu đần thực sự. Những người buông lời bình phẩm kia sao có thể hiểu nổi cảnh giới của bậc trí giả.

Sau khi nghe xong những lời này, Tu Bồ Đề coi như chẳng nghe thấy gì, ông lại tiếp tục rảo bước rời đi.

Có một số tỳ khưu cũng nghe được những lời trên, họ rất bất bình thay Tu Bồ Đề và hỏi ông: “Sao ngài không biện bạch với những người kia?”.

Tu Bồ Đề bình tĩnh ôn hòa nói: “Tâm ta thản đãng như trời xanh vạn dặm, chẳng có gì hết, hà tất phải biện bạch”.

Trước những lời bình phẩm của người khác, Tu Bồ Đề thản nhiên nói: “Tâm ta thản đãng như trời xanh vạn dặm, chẳng có gì hết, hà tất phải biện bạch”. (Pixabay)

Đúng vậy, nếu trong tâm một người không có chấp trước vào tự ngã, vào bản thân mình, thì người khác sao có thể làm tổn hại đến tự ngã của họ, còn tự ngã đâu mà bị tổn thương.

Cho nên, Tu Bồ Đề nhiều lần được Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi. Có một lần, Đức Phật khen ngợi Tu Bồ Đề ở trong buổi giảng Pháp: “Tu Bồ Đề, trong các đệ tử của ta, có thể tu hành đến trình độ như con, coi như là rất hiếm có. Chúc mừng con, con đã là A La Hán ly dục đầu tiên”.

Ly dục tức là trừ bỏ mọi sự ham muốn, thích thú trên mọi phương diện, ví như sự ham thích của mắt đối với người đẹp, cảnh đẹp, vật đẹp; sự ham thích của tai đối với những lời dễ nghe, lời khen, âm nhạc thế tục, v.v.

Tu Bồ Đề vừa vui mừng vừa cảm kích, ông đảnh lễ với Đức Phật rồi khiêm tốn nói: “Bạch Phật Đà, lòng con cảm kích vô ngần trước lời khích lệ của Ngài. Nhưng con tuyệt đối không có suy nghĩ như vậy, nếu như con có suy nghĩ này thì cũng đồng nghĩa với việc chưa chặt đứt được chấp trước vào tự ngã. Kỳ Thực, Tôn giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Mục Kiền Liên mới là các A La Hán ly dục thực sự”.

Có một lần, khi Tu Bồ Đề ngồi đả tọa trong hang động, công đức và phẩm hạnh cao thâm của ông đã làm cảm động Thiên nhân. Họ xuất hiện trong không trung, vừa rải hoa tươi về phía Tu Bồ Đề vừa hợp thập và tán thán:

“Tôn giả, làm người trên thế gian, có danh tiếng cao xa, có rất nhiều của cải, nhưng thực ra lại chẳng có gì đáng tôn đáng quý. Giống như quốc vương, hay phú hào, cuối cùng họ cũng bị cầm tù bởi những phiền muộn và dục vọng. Tôn giả, trên thế gian này người thực sự tôn quý là những bậc đại tu hành như ngài đây. Ánh sáng của ngài chiếu rọi Thiên cung. Tu Bồ Đề ở nhân gian nhưng xứng đáng được Thiên Thượng cúng dường. Chúng ta đảnh lễ với ngài để bày tỏ lòng tôn kính”.

"Rabjor or (Subhuti)" 1882 art detail, from- Journal of the Asiatic Society of Bengal (IA journalofasiatic5111asia) (page 95 crop).jpg
Hình minh họa Tôn giả Tu Bồ Đề của người Tây Tạng. (Public Domain)

Thiên nhân tấu nhạc

Tu Bồ Đề thường ngụ tại núi Kỳ Xà Quật, có một lần đột nhiên ông bị ma bệnh quấy nhiễu, thân tâm đều mệt mỏi.

Ông kiết già đả tọa, ngay ngắn thẳng lưng, chính niệm suy ngẫm: “Nỗi khổ bệnh tật của thân thể đến từ đâu? Phải làm sao mới có thể rời xa bệnh khổ đây?”.

Ông phản vấn bản thân một cách sâu sắc, sau đó lại nghĩ: “Nguyên nhân dẫn tới bệnh khổ trên thân thể, có cái là quả báo do trong quá khứ từng làm việc xấu, có cái là do quan hệ trái duyên trong đời này. Dùng thuốc cũng không thể nào tiêu trừ triệt để được, chỉ có hết lòng tin vào nhân quả, sám hối tội lỗi và nghiệp tạo trước đây, mới làm được tâm không thấy khổ, từ đó thân không thấy khổ”.

Sau khi có được chính niệm này, đột nhiên Tôn giả Tu Bồ Đề cảm thấy cả thân lẫn tâm đều vô cùng nhẹ nhàng tự tại, chẳng còn chút bệnh nào.

Khi này, Thiên Đế Thích – vị Thần hộ Pháp – dẫn theo 500 Thiên nhân cùng rất nhiều nhạc Thần giáng lâm tới núi Kỳ Xà Quật. Khi các nhạc Thần tấu nhạc, 500 Thiên nhân cũng bắt đầu xướng ca:

Đức vọng của Tôn giả cao hơn trời!
Tu hành của Tôn giả dài hơn sông!

Đi hết biển sinh tử
Dập tắt lửa ‘hữu vi’
Thống khổ từ bệnh có thể đoạn trừ…

Khúc tấu vừa dứt, tiếng hát cũng ngừng. Thiên Đế Thích cùng Thiên nhân bái kiến Tôn giả, tôn kính thăm hỏi: “Xin hỏi Tôn giả, lúc này bệnh khổ của ngài còn không?”.

Tu Bồ Đề trả lời: “Bệnh của ta sớm đã tiêu trừ, hết bệnh rồi. Hiện giờ thân tâm ta rất yên ổn, tự tại”.

Thiên Đế Thích nghe xong thì vô cùng hoan hỷ rồi dẫn chư Thiên nhân trở về Thiên Thượng.

Một tầng hàm nghĩa của 'Không'

Thế gian có 7 tỷ người, có mấy người mà trong tâm không coi tự ngã của mình là lớn nhất, mình thông minh nhất, mình ưu tú nhất, mình giỏi hơn, mạnh hơn người khác?

Thế nhưng từ cảnh giới của Phật mà nhìn thì cảnh giới của con người lại rất thấp, tự ngã của mỗi người có là gì. Ngược lại, nó còn là gông cùm ngăn cản con người lĩnh ngộ được cảnh giới ở tầng thứ cao.

Tu Bồ Đề sinh ra trong gia đình phú hào lễ nghĩa, từ bi thiện lương, thông minh tuyệt đỉnh, đọc nhiều sách vở, kiến thức uyên thâm, thậm chí cho rằng chẳng ai có đủ tư cách đàm luận cùng mình. Nhưng trong huệ ngộ của Phật Pháp, ông đã buông bỏ được tự ngã và đạt tới cảnh giới “Không”.

Trong mắt của phàm phu tục tử, ông chỉ là kẻ ngây ngô, nhưng trong mắt của Thiên nhân, ông lại là Thánh giả được Thần trời tôn kính. Trong “Tây Du Ký”, ông là sư phụ Thần thông quảng đại của Tôn Ngộ Không. Có lẽ, buông bỏ chấp trước vào tự ngã cũng là một tầng hãm nghĩa của “Không”.

Nam Phương
Theo Vườn văn sử

Bạn bình luận gì về tin này?



BÀI CHỌN LỌC

Tu Bồ Đề - Đại đệ tử Đệ Nhất Giải Không của Phật Đà đạt đến cảnh giới 'Không' như thế nào?